Hiển thị các bài đăng có nhãn Trà. Hiển thị tất cả bài đăng
Hiển thị các bài đăng có nhãn Trà. Hiển thị tất cả bài đăng

Chè và văn hoá trà - Phần 6: Trà trong thế giới hiện đại

Thanh Do | 14:02 | 0 nhận xét
6. Trà trong thế giới hiện đại


Cho đến nay trà vẫn được xem là một trong những thức uống tốt nhất được cả thế giới công nhận.

Ở phương Tây người ta sáng tạo ra cách uống trà (trà đen, tức Hồng trà) pha kèm với đường, sữa tươi, hay mật ong.

Dân Trung Đông lại còn cho thêm những gia vị khác như quế, hồi, gừng, v.v. vào trà. Có lẽ do Trung Đông quá nóng, nên dân xứ này không thể chống nóng bằng cách uống trà đá, mà phải dùng cách “lấy độc trị độc”, uống trà nóng pha với gia vị nóng để cân bằng trong-ngoài (cũng như trong khi ta chống nóng bằng cách mặc thoáng mát thì họ che kín toàn thân bằng nhiều lớp quần áo thật dày).

Chè và văn hoá trà - Phần 5: Nghệ thuật uống trà ở Việt Nam

Thanh Do | 13:54 | 0 nhận xét
5. Nghệ thuật uống trà ở Việt Nam

5.1. Nghệ thuật thưởng trà dân gian Việt Nam

Người Nam đã uống trà từ lâu, và ở nửa sau thiên kỉ thứ nhất, ở miền đồi  núi trung du và châu thổ, người Việt đã trồng chè. Ở Cửu Chân (tên gọi Thanh Hóa thời xưa) có núi Chè, đặt tên chữ là Trà Sơn


Sách Trà Kinh của Lục Vũ đời Đường chép: “Qua lô [= chè] ở phương Nam cũng giống như “dính” [= chè phương Bắc] mà búp nhị đăng đắng. Người ta pha nước uống thì tỉnh mỉnh, suốt đêm khó ngủ. Giao Châu và Quảng Châu rất quý thứ chè ấy. Mỗi khi có khách quí đến chơi thì pha mời”. 

Chứng tích trà Việt còn lưu lại trên những bình bát trà gốm Việt- Dao (proto-celadon) từ thời Bắc thuộc, và hưng thịnh dưới thời Phật giáo Lý- Trần. Các nhà khảo cổ học cũng đã tìm thấy tại Nông Cống (Thanh Hóa) trong số các đồ tuẫn táng (chôn cùng người chết) có các loại chén trà bằng đất (từ lò Bát Tràng, Cầu Cây, Đông Sơn) có niên đại ngang với hai đời Tống-Minh (Trung Quốc)[viii].

Văn bia Lý do sư Pháp Ký soạn cho Thầy là sư Tịnh Thiền ghi rằng “chỗ uống trà là chỗ thập phương thí chủ dồn về”[ix] chứng tỏ giữa Đạo Phật và trà ở Việt Nam cũng có mối liên hệ.

Trà cụ thời Lý

Lê Tắc trong An Nam chí lược chép: “Tháng 5 năm thứ 8, (975), Liễn [Đinh Liễn, con trai Đinh Bộ Lĩnh, đi cống Trung Quốc thời Tống Thái Tổ] tiến cống vàng, lụa, sừng tê, ngà voi, trà thơm” [2002: 227]. Chúng ta biết rằng nghệ thuật thưởng trà Trung Quốc đạt tới đỉnh cao thời Đường (trà bánh) – Tống (trà bột), vậy thì “trà thơm” được Đinh Liễn cống cho Hoàng đế Tống Thái Tổ khi ấy chắc hẳn phải được nhà Tống quan tâm và rất có giá trị, hay chí ít cũng là niềm tự hào của người An Nam.

Trong địa chí của Nguyễn Trãi có nhắc đến trà Tước Thiệt (trà lưỡi chim sẻ) người ta còn gọi là trà móc câu thuộc giống trà mi ở vùng Sa Bôi nay thuộc tỉnh Quảng Trị (ngày xưa thuộc Châu Ô, Châu Lý)[x]. Vân Đài loại ngữ (1773) của Lê Quý Đôn lần đầu tiên ghi chép về cây chè ở vùng Thanh Hóa và việc chế biến trà bánh của làng Bạng nổi tiếng về nghề chè, trong Mục IX (Phẩm vật): “Cây chè đã có ở mấy ngọn núi Am Thiền, Am giới và Am Các ở huyện Ngọc Sơn, tỉnh Thanh Hóa, mọc xanh um đầy rừng; thổ nhân hái lá đem về giã nát, rồi phơi trong râm cho khô; đem nấu nước uống, tính hơi hàn, uống vào mát tim phổi, giải khát ngủ ngon. Hoa và nhị chè càng tốt, có hương thơm tự nhiên. Có một làng tên là Vân Trai, giáp Bạng Thượng, chuyên làm nghề chè giã nát gọi là chè Bạng. Chè sản xuất ở các làng sau này đều là thứ chè ngon: làng Đông Lao, Lương Quy, Chi Nê, Tuy Lai, Lệ Mỹ và An Đạo…” [dẫn theo Đỗ Ngọc Quỹ 1999: 19]. Theo một học giả người Đức là J.Koch trong một bài in ở tạp chí “Cây trồng ở các thuc địa” tháng 8/1900 có  viết: “..Ở vùng đất Nam Kỳ đặc biệt phì nhiêu, giữa Thủ Đức và Thủ Dầu Một, hiếm thấy nhà nào mà không có ít nhất ½ ha trồng chè Huế. Vườn chè gia đình thường trồng quanh nhà ở, xen với cau, cây ăn quả” [dẫn theo Đổ Ngọc Quỹ 2003: 38-39]. Ở Việt Nam có rất nhiều giống trà trồng hợp với khí hậu địa phương, các nơi trồng trà nổi tiếng như: Phú Thọ, Hà Giang, Hòa Bình, Nghệ An, Thái Nguyên, Lai Châu, Bảo Lộc (Lâm Đồng).

Rất nhiều ca dao tục ngữ nói đến đặc sản chè của các địa phương: Ai về Hà Tĩnh thì về/ Mặc lụa chợ Hạ, uống nước chè Hương Sơn (ca dao); Mạ vườn không, bông  đồng hang, lang đồng Gừa, dưa chùa rí, bí ông Đe, chè Khán Cổ; Nguyên Xá cây bông, đúc đồng An Lộng, cá giống Thanh Nga, ương chè thôn Quán; Nước giếng Me, chè Ba Trại; Nước giếng Nghè, chè Kì Viên; Thịt chó làng Nghe, nước chè làng Chẹm; Chè Yên Thái, gái Tiên Lữ; Trai khôn uống chè Ba Trại, gái dại uống chè Nghè, mẹ bảo chẳng nghe cứ uống chè Bồng Lạng (tục ngữ). 

Chè và văn hoá trà - Phần 4: Nghệ thuật uống trà ở Trung Quốc và Nhật Bản

Thanh Do | 13:51 | 0 nhận xét
4. Nghệ thuật uống trà ở Trung Quốc và Nhật Bản
Từ chỗ ban đầu được xem như một loại thuốc, trà không đơn thuần là một loại nước giải khát mà là sự kết hợp tuyệt vời của hưởng thụ vật chất với giải trí tinh thần.Văn hóa trà Trung Quốc đạt tới đỉnh cao vào thời Đường (618-905) và thời Tống (907-1279).
Sự phát triển của nghệ thuật uống trà có thể chia làm 3 giai đoạn chính: trà nấu (đoàn trà, dùng trà bánh), trà khuấy (dùng bột trà hay mạt trà) và trà ngâm (tiễn trà, dùng trà rời). 

4.1. Giai đoạn dùng trà bánh để nấu
Lão Tử (tk V tCN) đặt ra nghi lễ thưởng thức trà trong tách nhỏ gọi là “kim dược” (thuốc quý như vàng). Cuốn Án Tử Xuân Thu đã viết: “ Vào thời Tề Cảnh công, tể tướng Án Anh thường có lối ăn uống đạm bạc, nướng vài ba trái trứng và uống trà ngon”. Ngô Chí, Vĩ Diêu truyện nói: “Tôn Hạo, mỗi khi thiết tiệc đãi khách, đếu bắt buộc mỗi tân khách phải uống cạn bảy thăng rượu, tuy không tận vào miệng song cũng tưới đổ cho hết; Diêu uống rượu không quá hai thăng, Hạo biết vậy nên biệt đãi Diêu, cho phép lấy trà thay rượu” (Chương VII- quyển hạ “Bộ trà kinh” của Lục Vũ, dẫn theo [Vương Hồng Sển 1993: 30]).
Để có trà bánh, sau khi thu hái, lá chè được làm khô (một phần hoặc hoàn toàn), đem chưng, giã, đập, rồi sấy (hoặc phơi nắng), xâu, nén thành bánh, rồi đóng gói. Người ta gọi bánh trà hình tròn là Long Đoàn, Phượng Đoàn. Trà nén Pu-erh là vết tích của quá trình này.
Để pha trà loại trà bánh này, cần tiến hành ba bước sau:
Hong: Trà bánh đầu tiên thường được hong qua lửa để loại bỏ hết nấm mốc và côn trùng. Hong cũng tạo cho trà thành phẩm có hương vị.
Nghiền: Bánh trà được làm vỡ và nghiền ra thành bột (giống như bột trà Nhật Bản- matcha).
Nấu: Người ta cho bột trà vào nước nóng, đun sôi và làm nổi bọt bằng một dụng cụ khuấy trước khi dùng.
Thời Đường (618-907) trở thành đỉnh cao của nghệ thuật uống trà. Việc này có ba nguyên nhân chính như sau: (1) do Phật giáo và Lão giáo hưng thịnh nên việc uống trà tại các chùa chiền, đạo quán rất phổ biến; (2) giao thông và các phương tiện chuyên chở thời kì này đã phát triển nhiều; (3) ảnh hưởng sách Trà Kinh của Lục Vũ[iv].
Trà kinh” của Lục Vũ trở thành bộ sách trà học đầu tiên trên thế giới, mở đầu cho nghệ thuật uống trà của Trung Quốc. Văn hóa uống trà được định hình, hoạt động uống trà hàng ngày được chuyển thành một môn nghệ thuật, một nét văn hóa đặc sắc của Trung Hoa.
Theo Lục Vũ, việc uống trà bao gồm: Dụng cụ uống trà (khí), nước pha trà (Thủy), Lửa đun trà (Hỏa); người pha trà, uống trà, thời điểm uống trà (sự).
Lục Vũ hướng dẫn cách pha trà như sau: đem trà bánh hong trên bếp lửa (dùng củi than là tốt nhất, tránh loại gỗ có mùi dầu) cho đến khi thật mềm, rồi đặt giữa hai tờ giấy (loại tốt) mà nghiền vụn ra; dùng nước trên núi để pha là tốt nhất, khi nước sôi lăn tăn (có những bọt nổi lên như mắt cá) thì cho một chút muối vào; khi nước nghe như tiếng suối reo, bọt nước giống như những hạt ngọc bằng pha lê thì cho trà vào; và cuối cùng khi thấy sóng nước sủi lên sùng sục thì đổ vào một thìa nước lã để “trấn” trà và làm cho nước hồi phục lại nguyên dạng [Okakura Kakuzo 1967: 40].
Trà cụ thời kì này gồm 28 dụng cụ, được chia làm 8 nhóm [Vương Tùng Nhân 2004: 186-196]:
Nhóm 1: dụng cụ sinh hỏa gồm phong lô (lò có gió), khôi thừa (tro thừa), cử (cái sọt), thán qua (cây sắt khều lửa) và hỏa hiệp (cây cời than).
Nhóm 2: dụng cụ nấu trà gồm phúc (nồi) và giao sàng (cái giá).
Nhóm 3: dụng cụ khảo trà, nghiền trà và đong trà gồm giáp (cái kẹp), chỉ nang (túi giấy), niễn (con lăn, để nghiền trà), phất mạt (phất trần), la hợp (lưới và hộp), tắc (dụng cụ dùng để đo lường).
Nhóm 4: dụng cụ đựng nước gồm thủy phương (thùng đựng nước), lộc thủy nang (thùng và túi lọc nước), phiêu (cái gáo, môi dùng múc nước), thục vu (bình trữ nước) và trúc hiệp (đũa quấy nước).
Nhóm 5: dụng cụ đựng muối gồm sai lam (đồ đựng muối) và kiết (dụng cụ lấy muối ra).
Nhóm 6: dụng cụ uống trà gồm uyển (chén) và trát (miếng gỗ nhỏ)
Nhóm 7: dụng cụ làm sạch gồm địch phương (thùng đựng nước rửa những vật dể dính dầu mỡ), tử phương (thùng đựng nước rửa vật  lắng cặn) và cân (khăn lau những dụng cụ).
Nhóm 8: dụng cụ để chứa đựng gồm bổn (đồ lót chén), cụ lệ (cái giá đựng) và đô lam (cái làn).
Lục Vũ cho rằng nên đựng trà trong chén gốm màu xanh, vì nó làm tôn thêm màu lục của nước trà.
   Lô Đồng đời Đường viết về cảm xúc khi uống trà trong bài Trà  Ca  “Thất Oản Trà” như sau:
Chén thứ nhất làm trơn cổ họng,
Chén thứ hai làm tan nỗi buồn phiền,
Chén thứ ba thấm vào ruột đang khô héo,
Chỉ còn lại năm nghìn cuốn sách
Chén  thứ tư làm mồ hôi rướm ra.
Những chuyện bất bình trong đời thường cũng theo lỗ chân lông mà bay đi.
Chén thứ năm làm cơ thể sạch sẽ.
Chén thứ sáu đưa ta tới cõi tiên.
Chén thứ bảy không uống được nữa, chỉ thấy hai bên cánh tay gió phần phật thổi.
Ngoài Trà kinh của Lục Vũ còn rất nhiều tác phẩm viết về trà. Như đời Đường có Tô Dị viết Thập Lục Thang Trà. Đời Tống có Âu Dương Tu viết Đại Minh Thủy Ký; Sái Tượng viết Trà Lục; Tống Tử An viết Đông Khê Thức Trà Lục; Tống Huy Tông viết Đại Quan Trà Luận. Đời Minh có Hứa Thứ Thư viết Trà Sở, Từ Hiếu Trung viết Thủy Phẩm Toàn Trật. Đời Thanh có Lưu Nguyên Trường viết Trà Sử[v].
Trong các tác phẩm, có quyển Tục Trà kinh của Lục Đình Xán, tự Phù Chiêu, hiệu Mạn Đình, đất Tô Châu. Người ta bảo rằng nếu ví Lục Vũ như  Khổng Tử trong trà gia thì Lục Đình Xán công lao phải sánh ngang Chu Hi.

Chè và văn hoá trà - Phần 3: Các loại chè/trà và công dụng của trà

Thanh Do | 13:47 | 0 nhận xét
3. Các loại chè/trà và công dụng của trà
3.1. Các loại chè
Trên thế giới có khoảng 3.000 thứ lá cây thường được dùng làm đồ uống hàng ngày.  Thế nhưng từ khi trà trở nên phổ biến thì những loại đồ uống bằng lá cây nói chung thường đều được gọi là trà (tea). Ví dụ, trà Pháp là cây đan sâm; chè Mỹ, chè Mactinic là cây thuộc họ Hoa mõm chó; chè Brazin và chè Paragoay là cây nhựa ruồi Paragoay; chè Mêhico là cây chân ngỗng (chenopodium ambrosioides) thuộc họ rau muối; chè Mông Cổ là cây tai hổ; chè châu Âu là cây huyền sâm (Veronica officinalis); chè Phông-ten-nơ-blô là cỏ hạt ngọc (Lithospermum officinalis). Việt Nam có chè vối, chè dây hoặc chè Hoàng Giang (còn gọi là chè Trường Sơn), chè vằng, chè hàng rào, chè đồng, chè cay...  [Đặng Hanh Khôi 1983: 4-5].
Chè chính hiệu có tên khoa học là Camellia sinensis cũng có tới 9 loại. Trong đó có 3 giống chính: Chè Assam (Ấn Độ): lá to, dài tới 20cm, thân lớn, cao tới 18-20m. Chè Đông Dương: cây cao 5m, lá dài tới 7,6cm. Chè Trung Quốc ở phía Bắc thì cây nhỏ hơn (chỉ cao 2-3m), có nhiều cành, mọc thành bụi, nhưng khỏe và chịu được rét, lá cứng và ngắn khoảng 3,8-6,4cm.
Chè assam


3.2. Các loại trà
Về sản phẩm, dựa vào nhiệt độ hay giai đoạn lên men (sự ôxy hóa) đối với lá chè, người ta phân loại trà thành 5 nhóm chính.
Bạch trà (白茶): là trà búp non, không được làm ôxy hóa. Các nước phương Tây ít biết đến loại trà này. Bạch trà Trung Quốc nổi tiếng nhất là bạch trà được trồng ở Phúc Kiến.
Lục trà (), tức trà xanh, là loại phổ thông nhất trong giới thưởng ngoạn trà. Trà xanh được chế biến trong vòng 1-2 ngày sau khi thu hoạch. Người ta sẽ dừng quá trình lên men ngay sau khi một lượng tối thiểu lá chè được ôxy hóa bằng nhiệt, hong bằng hơi nước hoặc được sấy khô trên chảo nóng. Lá chè có thể được làm khô kiểu sợi rời hoặc vê tròn nhỏ thành trà “thuốc súng” (gun-powder tea).
02-Tra thuocsung

Trà xanh Trung Quốc nổi tiếng nhất là trà Long Tĩnh (Rồng Trong Giếng) sản xuất ở Hàng Châu. Tương truyền trà Long Tĩnh trở nên nổi tiếng từ thời Càn Long. Trong một lần đến Hàng Châu, vua Càn Long từng ghé thăm một vườn trà khá nổi tiếng của địa phương. Thoạt đầu khi uống thử trà Long Tĩnh thì ông không có ấn tượng gì đặc biệt, nhưng một lúc sau vua mới cảm thấy có vị ngọt ngấm hoài trong cổ nên ngài đã truyền lệnh lấy trà Long Tĩnh của Hồ Tây Hàng Châu làm phẩm vật tiến cung hàng năm. Từ đó, trà Long Tĩnh của Tây Hồ ở Hàng Châu trở thành một thứ trà xanh rất thời thượng của dân uống trà.
Ngoài trà Long Tĩnh, Bỉ Lộ Xuân cũng là một loại trà xanh dùng tiến cung rất nổi tiếng, còn có tên là "Trinh Nữ trà". Tục truyền thì trà Bỉ Lộ Xuân phải do các trinh nữ hái và họ phải kẹp trà nơi chỗ kín (hay trong nách) để có mùi "trinh nữ" trước khi tiến cung. Thực ra thì mùi hương đặc biệt của trà Bỉ Lộ Xuân có được là do chè được trồng ở các trang trại trên dãy Động Đình San gần Động Đình Hồ. Động Đình San thường có sương mù bao phủ quanh năm, khí hậu ôn hoà, rất phù hợp với cây chè và các loại hoa trái khác. Các trang trại ở đây không chỉ trồng chè mà còn trồng nhiều loại cây ăn trái nổi tiếng như đào, lê, mơ, táo, v.v. cho nên vào mùa xuân là mùa hái trà, hương của các loại hoa này quyện lấy lá chè và vẫn giữ được khi trà đem sấy.
03-Tra O-long

Trà Ô-long (烏龍茶): Trà Ô Long là loại mà dân Đài Loan và Quảng Đông hay dùng. Nó thu được bằng cách dừng quá trình ôxy hóa ở khoảng giữa của trà xanh và trà đen (khoảng từ 20-60% oxidation). Quá trình ôxy hóa diễn ra trong 2-3 ngày. 
Hồng trà (紅茶): Lá trà được ôxy hóa hoàn toàn. Quá trình ôxy hóa diễn ra trong vòng từ 2 tuần tới 1 tháng. Gọi là “Hồng Trà” vì khi pha, nước thường có màu hồng đỏ. Những loại hồng trà nổi tiếng là trà Thiết Quan Âm (Phúc Kiến), Đại Hồng Bào ở Trung Quốc lục đia; Động Đình trà ở Đài Loan. Những huyền thoại về "Trảm Mã Trà" hay "Hầu Trà" đều thuộc loại Hồng Trà. Hồng Trà là loại trà phổ biến nhất ở phương Tây. Người phương Tây gọi loại trà này là Trà đen.
04-Tra Pho-Nhi

Trà Phổ Nhị (普洱茶/黑茶, trà Pu-erh / Hắc trà) sản xuất tại Vân Nam có hai dạng: trà Phổ Nhị xanh (青饼, Thanh Bính) và loại Phổ Nhị chín (熟饼, Thục Bính̀). Nó được làm tương tự như mứt, ngoại trừ việc phải kiểm soát nhiệt độ và độ ẩm rất cẩn thận. Trà sau đó thường được nén thành nhiều hình dạng khác nhau như: hình bánh, hình đĩa hay có đỉnh tròn. Phổ Nhị được coi như trà thuốc ở Trung Quốc.
Ngoài ra, còn có một số loại trà đặc biệt khác như Hoàng trà (黃茶) là trà có chất lượng cao để phục vụ triều đình; loại trà đặc biệt này chế biến tương tự như trà xanh nhưng sấy lâu hơn. Kukicha (茎茶, Hành trà) hay trà mùa đông, được làm từ các lá già và cành chè con được cắt vào mùa đông và rang khô bằng lửa; nó được coi là tốt cho sức khỏe ở Nhật Bản và có trong thực đơn chay.
Nếu dựa theo hình dáng ngoài, chúng ta có thể phân làm 3 loại: Trà rời: trà đen rời (trà cánh, trà mảnh, trà vụn), trà xanh rời (trà cánh, trà mảnh, trà vụn, trà sợi, trà dẹp, trà tròn). Trà bánh: được chế biến từ trà đen, trà xanh hoặc trà vụn ép thành từng miếng. Các loại trà bánh đều được gia công chế biến từ các nguyên liệu chè già. Trà bột hoặc cao trà: được chế biến từ nước chè cô đặc lại và sấy khô.
Nếu phân loại chè theo phương pháp gia công, chúng ta có 2 loại: Trà xô: không ướp hương. Trà hương: dùng hoa tươi hoặc hương liệu khô để ướp hương.
3.3. Thành phần hóa học và công dụng của trà
Với sự thâm nhập của trà vào phương Tây, các thành phần hóa học của cây chè bắt đầu được nghiên cứu từ năm 1827 (Oudry). Đến nay, người ta phát hiện được trong thành phần của chè có 13 nhóm gồm 120-130 hoạt chất khác nhau [Đặng Hanh Khôi 1983: 21- 30]:
- Nhóm chất đường: glucoza, fructoza,.. tạo giá trị dinh dưỡng và mùi thơm khi chế biến ở nhiệt độ cao.
- Nhóm tinh dầu: metyl salixylat, citronellol,..tạo nên hương thơm riêng của mỗi loại chè, chịu ảnh hưởng của khí hậu, loại đất và quy trình chế biến.
- Nhóm sắc tố: chất diệp lục, caroten, xanthophin, làm cho nước chè có thể từ màu xanh nhạt đến xanh lục sẫm hoặc từ màu vàng đến đỏ nâu và nâu sẫm.
- Nhóm axít hữu cơ: gồm 8-9 loại khác nhau, có tác dụng tăng giá trị về mặt thực phẩm và có chất tạo ra vị.
- Nhóm chất vô cơ: kali, phốtpho, lưu huỳnh, flo,magiê, canxi,..
- Nhóm vitamin: C, B1, B2, PP,…: hầu hết tan trong nước, do đó người ta nói nước chè có giá trị như thuốc bổ.
- Nhóm glucozit: góp phần tạo ra hương chè và có thể làm cho nước chè có vị đắng, chát và màu hồng đỏ.
- Nhóm chất chát (tanin): chiếm 15%-30% trong chè, sau khi chế biến thì nó trở thành vị chát…
- Nhóm chất nhựa: đóng vai trò tạo mùi thơm và giữ cho mùi không thoát đi nhanh (chất này rất quan trọng trong việc chế biến trà rời thành trà bánh).
- Nhóm chất keo (petin): giúp bảo quản trà được lâu vì có tính năng khó hút ẩm.
- Nhóm ancal: cafein, theobromin, theophylin, adenin, guanin,..
- Nhóm protein và axit amin: tạo giá trị dinh dưỡng và hương thơm cho chè.
- Nhóm enzim: là những chất xúc tác sinh học quan trọng trong quá trình biến đổi của cơ thể sống.
Những thành phần hóa học trên khi kết hợp lại tạo nên những tác dụng chính như sau:
- Diệt khuẩn.
- Chống chất phóng xạ.
- Giúp cơ thể tỉnh táo, kích thích lao động, đem lại niềm vui.
- Thúc đẩy tiêu hóa và bài tiết.
- Giúp cho hô hấp và tim mạch.
- Phòng bệnh đau răng.
- Hạ cholesterol và chất béo trong máu.
- Bảo vệ thần kinh trong bệnh Pakinson...
Riêng bã trà cũng có nhiều công dụng:
-          Phơi khô bỏ túi giấy treo trong nhà vệ sinh khử mùi hôi. Để trong tủ lạnh khử mùi khó chịu của nhiều loại thực phẩm.
-          Cho vào xoong, chảo rang trong ≈ 15’ khử mùi tanh của cá
-          Lấy bã trà xát lên gương, kính bị ố, rồi lau bằng khăn lạnh thì gương, kính sẽ sáng bóng
-          Lấy bã trà khô đốt lên sẽ đuổi được gián, kiến
-          Đổ bã trà vào chậu cây cảnh sẽ giữ được độ ẩm [NTNN 2005].

Trích đăng bài viết của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Chè và văn hoá trà - Phần 2: Quá trình truyền bá và phát triển kỹ thuật chế biến chè

Thanh Do | 13:43 | 0 nhận xét
2. Quá trình truyền bá và phát triển kỹ thuật chế biến chè
2.1. Quá trình truyền bá và phát triển ở Đông Nam Á cổ và Trung Quốc 

Đầu tiên, con người sử dụng lá chè trực tiếp, chưa hoặc hầu như chưa qua chế biến.
Thô sơ nhất là cách ăn sống lá chè như một thứ thuốc (người Kachin ở miền Bắc Miến Điện hiện nay vẫn còn phong tục này).
Hoặc dùng lá chè tươi nấu nước uống (người Việt ở những vùng trồng chè hiện nay vẫn uống như vậy).
Hay trộn lá chè cùng một số cây cỏ khác đun làm thuốc uống (vào tk IV-V, dân chúng ở lưu vực sông Dương Tử thường lấy lá chè đem hấp lên, bỏ vào cối giã, làm thành bánh rồi đem nấu với gạo, gừng, muối, vỏ cam, hương liệu, sữa, và đôi khi cả hành nữa; tập quán này vẫn còn thịnh hành ở người Tây Tạng và các bộ tộc Mông Cổ [Okakura Kakuzo 1967: 37]).
Người dân tộc Thái và Ngõa sống tại vùng chè phía nam Vân Nam có tục uống chè nướng: họ hái từ 1 tôm đến 5-6 lá chè đem nướng trực tiếp trên lửa cho đến khi cháy xém vàng, rồi bỏ vào ấm đun uống [Đỗ Ngọc Quỹ, 2003: 38].
Sau, người ta nghĩ ra cách phơi nắng, làm khô lá chè để có thể bảo quản lâu hơn, dùng quanh năm.
Kĩ thuật hấp chè do những cư dân trồng lúa nước ở đồng bằng sáng tạo ra từ phương pháp nấu cơm. Dần dần với sự mở rộng thị trường tiêu thụ, người ta đã nghĩ ra cách sao chè nhằm tăng năng suất và tạo sự chủ động cho người sản xuất. Sáng kiến chế biến chè thành bánh giúp cho việc vận chuyển và bảo quản được dễ dàng. Người ta lấy những lá chè tốt đem hong qua nước sôi rồi bỏ vào cối giã, đem phơi nắng một chút, làm cứng lại và kết thành bánh. Thời đó, người ta thường làm thủ công theo những phương pháp gia truyền khác nhau ở mỗi nước, mỗi vùng, với năng suất thấp. Trà bánh từng được dùng thế cho "tiền" trong việc mua bán, trao đổi giữa các dân tộc, nhất là các sắc dân sống ở vùng tây bắc Trung Hoa.
Ở Trung Quốc, trà bắt đầu được biết đến từ thời Hán. Vào thời Tam Quốc trà trở thành thức uống trong yến tiệc của các tầng lớp sĩ đại phu trong vùng từ Tứ Xuyên đến Giang Nam. Trải qua đời Tùy, đến đầu đời Đường, trà vẫn được xem như một vị thuốc. Sách Thần nông bản thảo kinh viết “Trà có thể khiến người ta ngủ ít, có tác dụng tăng lực, thoải mái...”. Các sư tăng dùng trà để giúp cho tinh thần tỉnh táo trong quá trình tham thiền nhập định. Các đạo sĩ dùng trà như một môn thuốc trường sinh. Vua thường lấy trà quý để ban thưởng cho các đại thần có công lớn. Thời kỳ này người ta chủ yếu vẫn dùng trà hoang, chưa có ý thức trồng trà.
Tới năm 780, khi Lục Vũ viết cuốn Trà Kinh thì việc uống trà mới được nâng lên thành một thú tiêu khiển thanh lịch, một nghệ thuật cầu kỳ trong giới vua chúa quý tộc. Lục Vũ tự là Hồng Tiệm người đất Cảnh Lăng (Hồ Bắc), nhờ cuốn Trà Kinh mà được mệnh danh là Trà tiên của Trung Hoa. Từ đó trở đi, tục uống trà mới dần phổ biến trong giới bình dân, nơi nơi đều uống trà. Việc trồng và chế biến trà cũng trở thành một ngành kinh tế đem lại một khoản thu lớn cho triều đình. Kể từ đời Đường, rồi đến Tống, Nguyên, Minh, Thanh – đời nào Nhà nước cũng coi thuế trà là một trong những nguồn lợi chính.
Thời Đường, khu vực sản xuất trà bao gồm: Giang Hoài, Lưỡng Chiết, Lĩnh Nam, Phúc Kiến, Kinh Tương, và từ đó đến nay những nơi này vẫn là những vùng trà chủ yếu. Thời Nam Tống, ngành trồng chè có ở 242 huyện, 66 châu, và đặc biệt phát triển ở Giang Nam. Năm 1162, sản lượng chè lên đến 547,5 tấn. 12 năm sau (năm 1174), sản lượng chè tăng thêm 210 tấn. Trà ngon có tiếng là ở Ngô Hưng, Thường Châu, Thiệu Hưng, Long Hưng, Phúc Kiến [Đường Đắc Dương 2003: 38; 137].
Từ đời Tống trở đi, trà đã đi sâu vào phong tục tập quán của Trung Quốc, từ việc sinh đẻ, hôn lễ, đến tang ma. Ở một số nơi vùng Giang Tây, khi có trẻ nhỏ ra đời, người nhà dùng 7 hạt gạo trắng, 7 lá chè gói trong giấy đỏ phân phát cho bạn bè thân hữu, có nhà phân phát đến 2-300 gói, những người nhận được gói trà-gạo báo tin này sẽ đặt tiền vào phong bao đỏ tặng lại. Trà cũng rất quan trọng trong việc cưới xin. Sách Động Đình đông sơn vật sản khảo ghi “người ta dùng trà trong hôn lễ”; sách Phẩm trà lục đời Tống cho rằng một trong những sính lễ không thể thiếu mà nhà trai đem đến nhà gái là trà. Trong việc tang ma, một số vùng có tục nhà có tang thì không dùng trà màu đỏ để mời khách. Ở vùng lưu vực sông Hoàng Hà, Hoài Hà, Trường Giang, trong tay người chết sẽ chôn theo một lá bùa, trong đựng gạo trắng, lá chè, giấy tu hành… để cho người chết dùng dưới âm phủ [Đường Đắc Dương 2003: 1109-1110].
Từ thời Minh-Thanh, việc uống trà bột (trà bánh) được thay bằng “tiễn trà” (trà rời, ngâm nước sôi). Kĩ thuật làm trà rời ra đời nhờ sự thay đổi về phương pháp chế biến với ba công đoạn: vò, sao, sấy. Sau khi thu hái lá trà non thì có thể sao trong nồi hoặc phơi ngoài nắng, rồi vò thành sợi nhỏ, cuối cùng là sấy khô. Trong đó hai công đoạn sao và vò là quan trọng nhất bởi nó quyết định màu sắc, hương thơm và mùi vị của trà.
Hiện nay Trung Quốc có bốn vùng trồng chè chính là Giang Nam, Giang Bắc, Tây Nam, và Lĩnh Nam. Giang Nam, Giang Bắc nổi tiếng về các loại trà xanh, Lĩnh Nam có trà Ô Long, còn Tây Nam sản xuất nhiều trà đen, trà bánh. Tổng cộng Trung Quốc hiện có khoảng hơn 200 loại trà, trong đó có 50 loại trà ngon có tiếng. Dũng Khê hỏa thanh là đặc sản của huyện Kinh, tỉnh An Huy, được làm từ cây “Kim Ngân trà” (Bạch trà) trồng trên núi Dũng Khê. Đây là loại trà xuất hiện vào đời Minh và sau trở thành trà tiến vua, phát triển nhất vào đời Thanh. Tây Sơn trà xuất phát từ vùng Tây Sơn huyện Quế Bình (Quảng Tây). Thiết Quan Âm trà là sản phẩm của vùng An Khê (Phúc Kiến). Hàng Châu Bích La xuân ở vùng Thái Hồ Động Đình sơn, huyện Ngô, Giang Tô (tên này do Vua Khang Hy đặt, tên cũ của trà là “nhân hương”). Huệ Minh trà là trà mang tên một ngôi chùa sát chân núi Cảnh Ninh ở Âu Giang (Chiết Giang). Cửu Khúc hồng mai (còn gọi là Cửu Khúc hồng hay Cửu Khúc Ô long), xuất xứ ở bờ sông Cửu Khúc, Tiền Đường (Hàng Châu), lá trà có hình giống như con rồng nhỏ và khi pha, nước có sắc tươi hồng. Ô-long trà có ở núi sâu An Khê (Phúc Kiến), theo truyền thuyết do người thợ săn Hồ Lương tình cờ tìm ra. Quân Sơn ngân châm là loại trà chỉ để tiến vua, do vua Minh Tông đặt tên[ii]
Hiện nay tại Trung Quốc vẫn còn những vườn trà đặc biệt thuộc loại cấm kỵ, không ai được vào hái hoặc quanh quẩn ở khu vực cấm. Bởi vì, nơi đây sản xuất những loại trà siêu phẩm, ngày xưa dùng để tiến vua và ngày nay thì dành cho giới thượng lưu.
2.2. Quá trình truyền bá và phát triển sang Triều Tiên và Nhật Bản
Từ Trung Hoa, cây chè và tục uống trà đã du nhập sang Triều Tiên, Nhật Bản.
Việc uống trà ở Triều Tiên được nhắc đến lần đầu tiên vào năm 647. Đến năm 828, vua Triều Tiên phái sứ thần Kim Đại Liêm sang Trung Hoa để mang hạt chè về, và dân chúng bắt đầu trồng chè [Kim Joo-Young 1993: 366]. Từ đó, tục uống trà cùng với đạo Phật lan rộng khắp bán đảo. Trà xanh nokcha /녹차 = 綠茶 là đồ uống rất quan trọng giúp các nhà sư tỉnh táo ngồi thiền. Từ Triều Tiên, tục uống trà đi tiếp sang Nhật Bản.
Thời Koryeo (918-1392), tục uống trà phổ biến xuống đến giới bình dân. Thời kỳ này, các gia đình quý tộc Triều Tiên mua trà nhập từ Trung Hoa, còn các nhà chùa thì trồng trà rất nhiều. Văn hoá uống trà thời Koryeo phát triển tới mức nó được thể chế hoá khá chặt chẽ: trong những ngày lễ hội dân tộc thường có phần trình diễn trà đạo[iii], trong triều đình thành lập riêng một đội “lính pha trà trên đường” để kịp thời hầu trà dọc đường cho vua [Yun Seo-Seok 1993: 335].
Nhưng sang thời Joseon (1392-1910), khi Nho giáo trở thành quốc giáo thì Phật giáo đi vào suy thoái, và đồng thời, tục uống trà cũng giảm dần. Mặc dù vẫn tồn tại các phòng trà (chabang /차방 = 茶房), có những cô gái chuyên phục vụ trà gọi là “trà nữ” (chanyeo /차녀 = 茶女), nhưng phần đông người Joseon thì, thay cho nokcha, họ chuyển sang uống nước cơm cháy sungnyung /숭늉 và rượu ủ makgeolli /막걸리. Gần đây, tục uống trà xanh nokcha mới bắt đầu được phục hồi, nhưng xem ra, thời hoàng kim của nó đã qua đi vĩnh viễn. Mặc dù vậy, tục uống trà đã ảnh hưởng mạnh đến thói quen của người Hàn tới mức mọi loại đồ uống nóng làm từ các loại nguyên liệu khác như dược thảo, trái cây khô, ngũ cốc... cũng đều được người Hàn gọi là trà (cha /) hết: Insamcha /인삼차 là trà nhân sâm, omijacha /오미자차 là trà dâu, yujacha /유자차 là trà thanh yên, rồi trà gừng (생강차), trà quế (계피차), trà bắp (옥수수차), trà lúa mạch (보리차), trà ý dĩ (율무차)...
Cây chè và tục uống trà thâm nhập vào Nhật Bản theo hai con đường: đầu tiên là từ bán đảo Korea vào tk VII, và sau đó trực tiếp từ nhà Đường (Trung Quốc) vào tk VIII.
Thời Nara (710-794), các đoàn sứ giả Nhật tới triều Đường đã mang một ít dancha (trà bánh) về làm quà. Sách có chép năm 729, Thánh Vũ Thiên Hoàng ban trà cho một trăm vị tăng lữ ở trong cung Nại Lương [Okakura Kakuzo 1967: 46]. Cũng như ở Triều Tiên, trà ở Nhật Bản được giới sư tăng hưởng ứng hết sức nhiệt tình, sau đó được hoàng gia và nhân dân rất ưa chuộng.
Năm 801, người sáng lập phái Tendai (Thiên Thai) là Saicho (Tối Chừng, 767- 822) được Hoàng gia phái sang Trung Quốc và khi trở về Nhật Bản ông đã mang theo những hạt giống trà đầu tiên. Chúng được đem trồng quanh vùng chân núi Hiei thuộc tỉnh Shiga và sinh trưởng rất tốt [Mạnh Thị Thanh Nga 2001: 70].
Trong cuốn “Nihon go ki” (Nhật Bản hậu ký) có ghi rằng vào năm 815, Thiên hoàng Saga trên đường đi Edo đã ghé vào nghỉ tại chùa Bonshaku và được sư thầy Eichiu (Vĩnh Trung) dâng trà. Thiên hoàng đã có ấn tượng mạnh với chén trà đó, bèn ra chỉ dụ khuyến khích trồng trà ở mọi nơi, kể cả ở vùng phụ cận của Hoàng thành. Đồng thời, trà Trung Quốc cũng được nhập khẩu rất nhiều và tục uống trà trở nên rất thịnh hành trong giới quí tộc, sư tăng. Tuy nhiên, vào năm 894 mối bang giao Trung-Nhật bị gián đoạn và việc nhập khẩu trà bị tạm dừng, việc trồng trà cũng không phát triển nữa.
Sau khoảng hơn hai thế kỉ, đến cuối thời Heian đầu thời Kamakura (1185-1333) ở Nhật Bản (tương đương với đời Tống (907- 1297) ở Trung Quốc), quan hệ Nhật-Trung được phục hồi, và văn hóa trà (lúc này là matcha, mạt trà = trà bột) theo chân các nhà sư tiếp tục truyền vào Nhật Bản. Người có công lớn nhất trong việc hồi sinh cây chè trên đất Nhật là Thiền sư Eisai (Vinh Tây, 1141-1215). Cùng với  việc truyền bá Thiền phái Rinzai (Lâm Tế) vào Nhật Bản, năm 1191 Eisai đã mang về nghi lễ uống trà đời Tống.
Năm 1202, trên đường tới Kyoto lập đền thờ Kemin theo lệnh của tướng quân Minamono Yorimoto (Nguyên Lai Triều, 1147-1199), Eisai đã gieo hạt giống chè tại vùng Togano (tây Tokyo ngày nay). Vì khí hậu ở đây rất ôn hòa hợp với cây chè nên đã thu hoạch được chè tốt và chế biến được trà có chất lượng cao. Sau đó cây chè được nhân rộng ra nhiều vùng khác, tất nhiên là chất lượng không bằng ở Togano. Chính vì vậy mà từ đây xuất hiện khái niệm “honcha” (bản trà, tức ‘trà gốc’) chỉ loại chè trồng ở Togano và “hicha” (phi trà, tức ‘trà khác’) để chỉ loại chè trồng ở các nơi khác.
Trong cuốn “Kitsu sa yoyo ki” (Những ghi chép về dưỡng sinh của việc uống trà) của Eisai có ghi lại một câu chuyện: Shogun (tướng quân) thứ ba thời Kamakura là Minamoto Sanetomo (Nguyên Thực Triều, 1192-1219) trong một buổi yến tiệc bị đau đầu dữ dội vì uống nhiều rượu. Trong lúc mọi người vô cùng lo lắng thì Eisai bình tĩnh pha một chén trà dâng cho Shogun và ông này vừa uống xong lập tức tỉnh rượu [Mạnh Thị Thanh Nga 2001: 71].
Từ đó, triều đình rất khuyến khích việc uống trà, coi đó như là một loại nước quý chữa bách bệnh. Một lần nữa việc uống trà trở nên thịnh hành trong giới sư tăng và võ sĩ cao cấp để giúp tỉnh táo và tăng cường sức mạnh. Còn giới quý tộc giàu có thì rất thích nghệ thuật Tocha (đấu trà) được truyền từ Trung Quốc sang. Theo đó, các dụng cụ pha trà Trung Quốc cũng được nhập vào Nhật Bản rất nhiều.
Những quy định mang tính nghi lễ trong việc uống trà dần định hình, rồi được các Thiền sư tích cực hoàn thiện vào thế kỉ XV và nâng lên thành đạo. Lúc đầu nghi lễ trà đạo chỉ được phổ biến trong giới tăng lữ và quý tộc, sau phát triển ra toàn xã hội và được phổ biến rộng khắp. Trà đạo trở thành nét đặc sắc của văn hóa Nhật Bản.
Trà dùng trong trà đạo chủ yếu là matcha (mạt trà = trà bột). Phương pháp dùng “tiễn trà” (trà rời ngâm nước sôi) của Trung Quốc (xuất hiện từ thời Minh-Thanh) tương đối mới đối với Nhật Bản vì phải tới giữa thế kỉ XVII họ mới biết đến kiểu uống này. Hiện nay, trong đời sống hàng ngày người Nhật dùng trà rời nhiều hơn, nhưng mạt trà vẫn giữ vị trí thống soái, là “trà trong các loại trà”.
Đất Nhật không thuận tiện cho việc trồng chè, vì vậy cho đến sau chiến tranh thế giới thứ hai, trà ở Nhật vẫn là một thứ uống “xa xỉ”, người Nhật phải trộn bo bo, phơi rong biển để làm trà giả mà uống. Ở Nhật hiện nay, trà ngon nhất (cao cấp) là trà TaGyokuto. Trà xanh Sencha là loại trung cấp. Trà lá Bancha có màu nước nâu vàng là loại thứ cấp. Trong đó trà xanh sencha phổ biến nhất, chiếm khoảng 80 % tổng sản lượng.
2.3. Quá trình truyền bá và phát triển sang Trung Á, Tây Á và châu Âu
Đi về phía tây, đầu tiên trà được bán cho nước Tây Vực ở tây bắc và Mông Cổ ở bắc Trung Quốc. Vào khoảng giữa thiên niên kỉ thứ nhất, trà được đưa theo con đường tơ lụa tới Tân Cương, vào vùng Trung Á, rồi đến các nước ở miền Tây Á như Afganistan (A Phú Hãn), Iran (Ba tư)... Vào thế kỉ IX trà được đưa đến Ả Rập.
Những người châu Âu đầu tiên biết đến việc uống trà là những thương nhân Bồ Đào Nha khi họ mở thương điếm ở Ma Cao (Trung Quốc) vào năm 1577. Vào năm 1606, Hà Lan nhập khẩu những thùng trà đầu tiên về châu Âu. Pháp biết đến trà từ năm 1636. Ngay khi trà được đưa vào Hà Lan và Pháp, nó nhanh chóng trở nên phổ biến trong tầng lớp quý tộc. Nga khám phá ra trà vào năm 1638 sau khi Hoàng đế Trung Hoa biếu trà làm quà cho Sa hoàng Mikhail I và dần dần được người Nga yêu thích. Vào năm 1664, công ty Đông Ấn dâng trà cho vua Anh.
Loại trà sử dụng phổ biến ở phương Tây là trà rời, vì đây là lúc người Trung Hoa đã chuyển sang uống trà rời, và do vậy phương Tây không biết tới hai cách uống trà thời trước đó là trà bánh và trà bột. Trà đen là loại được ưa chuộng hơn cả, họ thường cho thêm đường, sữa, mật ong hay nước trái cây để trà bớt đắng.
Cũng như tình hình đã xảy ra ở nhiều nơi khác, lúc đầu ở châu Âu trà rất quý hiếm nên chỉ dành cho tầng lớp trên, và do bị xem như một loại thuốc nên phổ biến quan niệm cho rằng việc dùng quá nhiều trà sẽ dẫn đến tử vong. Tương truyền có lần vua Anh gia ơn thay hình phạt tử hình hai người tử tù bằng cách buộc họ uống trà hàng ngày, và kết cục là hai người này đã sống tới 83 tuổi, thọ hơn cả vua Anh! Người Anh dần dần phát triển trà cả trên phương diện thương mại lẫn thưởng thức, có cả trà thất, trà quán. Từ thời vua Charles II (thế kỷ XVII) thì nhu cầu của giới tiêu thụ trà càng tăng. Hoàng hậu Catherine Braganza (vợ Vua Charles II) rồi đến nữ Quận công Elizabeth Lauderdale, đều rất mê trà. Uống trà trở thành thói quen phổ biến của người dân Anh, nó nhanh chóng trở thành một “mốt thời thượng” (snobbery) và thông dụng tới mức thậm chí đã đi vào thành ngữ “It’s my cup of tea” diễn tả điều gì đó là sở thích, thú vui của một người. Anh là nước châu Âu có 70% dân số uống mỗi ngày ít nhất một chén trà. Hai nhà sản xuất và kinh doanh trà hàng đầu ở phương Tây đều là người Anh: Thomas Twining là người đầu tiên bán trà chén ở Anh từ năm 1708, thương hiệu trà Twining của ông vẫn duy trì đến tận bây giờ. Thomas Lipton là người đã tạo nên thương hiệu trà Lipton từ cuối thế kỉ XIX, nay trở nên nổi tiếng toàn thế giới. Vào năm 1851, những bí mật về cách trồng chè và chế biến trà của Trung Quốc đã bị một nhà thực vật học người Anh là Robert Foturne khám phá và nhờ đó giúp cho các sản phẩm trà của công ty Đông Ấn trở nên hoàn thiện. Từ Anh, trà được truyền sang Ấn Độ là thuộc địa của Anh lúc bấy giờ.
Từ “trà” với cách phát âm là /cha/ phổ biến trong tiếng Quảng Đông và tiếng quan thoại Bắc Kinh (Madarin) đã đi vào hàng loạt ngôn ngữ trên thế giới: tiếng Hàn (cha ), tiếng Nhật (cha), tiếng Thái Lan, tiếng Việt (trà), tiếng Malayalam (gần với tiếng Tamil), tiếng Tây Tạng, tiếng Tagalog (Philippin), tiếng Hinđu, tiếng Nê-pan, tiếng Ba-tư, tiếng Ả-rập, tiếng Bang-la-det, tiếng Thổ Nhĩ Kỳ, tiếng Nga (чай), tiếng Ucraina, tiếng Bungari, tiếng Albani, tiếng Croatia, tiếng Séc, tiếng Slovakia (čaj), tiếng Hy Lạp, tiếng Bồ Đào Nha (chá), tiếng Rumani, tiếng Séc-by, tiếng Bantu (ở Đông Phi, Swahili)...
Với cách phát âm là /tê/ phổ biến ở phương ngữ Minnan, từ “trà” đi vào hàng loạt ngôn ngữ khác: tiếng Anh (tea), tiếng Pháp (thé), tiếng Đức (Tee), tiếng Iđít (Yiddish, tiếng Đức cổ của người Do Thái sống ở Trung và Đông Âu), tiếng Tây Ban Nha (té), tiếng Đan Mạch, tiếng Hà Lan (thee), tiếng Na-uy, tiếng Phần Lan, tiếng Thụy Điển (te), tiếng Estonia, tiếng Látvia, tiếng Hunggary, tiếng Aixơlen, tiếng Latinh, tiếng Ý (tè), tiếng Do Thái ('תה', /te/ hay /tei/), tiếng Xâylan (Cingalese,  Singhalese), tiếng Tamil (thè), tiếng Indonesia, tiếng Mã-lai... [http://en.wikipedia.org/wiki/tea].
Anh là nước châu Âu có tục uống trà phổ biến nhất nên từ “tea” trong tiếng Anh cũng có một phạm vi nghĩa khá rộng, nó được dùng để chỉ: (1) lá chè khô hoặc đồ uống pha nước sôi vào lá chè khô; (2) đồ uống pha nước sôi vào lá của các loại cây khác (trà thảo mộc, herbal tea); (3) bữa nhẹ vào buổi chiều, uống trà kèm với bánh xan-uých hay bánh ngọt. Từ “trà” trong tiếng Pháp tuy không có phạm vi nghĩa rộng như vậy, nhưng có sự phân biệt “le théier” là cây chè với “le thé” là sản phẩm trà đã qua chế biến.
Cùng với sự thâm nhập của trà vào châu Âu, thị trường chè được mở rộng nhanh chóng và kĩ thuật chế biến trà cũng sớm được cơ giới hoá và công nghiệp hóa. Từ năm 1870 bắt đầu có máy móc tham gia chế biến. Từ năm 1880, các khâu vò, sấy và chọn lọc đã được cơ giới hóa ở nhiều nước. Có sự phối hợp giữa các nhà sản xuất chè, các nhà nghiên cứu khoa học về chè, và các nhà chuyên môn kiểm định chất lượng (nếm) trà. Từ năm 1925 ở Dooars (đông bắc Ấn Độ), người ta dùng máy thái nhỏ chè trước khi làm héo, nhờ đó giảm được công làm héo chè, vò chè và màu nước trà pha đẹp hơn trước.

Trích đăng bài viết của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm

Chè và văn hoá trà - Phần 1: Nguồn gốc cây chè và việc dùng chè

Thanh Do | 13:34 | 0 nhận xét
1. Nguồn gốc cây chè và việc dùng chè

1.1. Nguồn gốc cây chè

Chè là loài cây có lịch sử trồng trọt lâu đời nhất. Cây chè có tên khoa học là Camelia Sineusis, thuộc họ Theacae, khí hàn, vị khổ cam, không độc. Đây một loại cây xanh lá quanh năm, có hoa màu trắng. Cây trà phải trồng khoảng 5 năm mới bắt đầu hái và thu hoạch trong vòng 25 năm. 


Dựa vào đặc tính sinh trưởng của cây chè, các nhà thực vật học xác định vùng đất mà cây chè có thể xuất hiện và sinh trưởng tốt phải có những điều kiện sau [Mạnh Thị Thanh Nga 2001: 67-68]:

1) Quanh năm không có sương muối.

2) Có mưa đều quanh năm với lượng mưa trung bình khoảng 3000 mm/ năm.

3) Nằm ở độ cao 500-1000 mm so với mực nước biển, môi trường mát mẻ, không nắng quá hoặc ẩm quá.

Những vùng đất thỏa mãn các điều kiện trên là:

1) Nửa phía nam tỉnh Vân Nam (Trung Quốc).

2) Bắc Việt Nam.

3) Bắc Miến Điện, Thái Lan và Lào.

4) Vùng núi phía đông bang Assam của Ấn Độ.

Người ta hay bất đồng ý kiến về nguồn gốc cây chè ở Trung Quốc, Bắc Việt Nam, Ấn Độ hay Miến Điện. Thực ra, nói về thời xa xưa, không nên dùng những địa danh và những ranh giới quốc gia hiện đại. Thời xưa, toàn bộ khu vực phía bắc đến sông Dương Tử, phía tây đến  bang Assamu của Ấn Độ - tất cả đều nằm trong vùng Đông Nam Á cổ đại. Như vậy, đúng nhất là nói rằng cây chè có nguồn gốc từ vùng bắc Đông Nam Á cổ đại, trong khu vực mà nay là bang Assam của Ấn Độ, qua bắc Miến Điện, Thái Lan, Lào, Việt Nam đến Vân Nam Trung Quốc. Vân Nam mãi đến đời Tống mới thuộc về Trung Quốc.

Cây chè nguyên thủy được xem là có từ 4-5 nghìn năm trước đây. Khảo cổ học Việt Nam đã tìm thấy những dấu tích của lá và cây chè hóa thạch ở Phú Thọ. Ở Suối Giàng (Văn Chấn, Nghĩa Lộ) có cả một rừng chè hoang mấy vạn cây trong đó có ba cây chè cổ thụ, cao 6-8m, ba người ôm không xuể. Ở Lạng Sơn cũng tìm thấy một rừng chè dại, có cây cao tới 18m [Trần Quốc Vượng 2000: 31]. Một số nơi ở nam Trung Quốc có những cây chè hoang cao tới 32,12m [Vương Tùng Nhân 2004: 9].

Sách Trà Kinh của Trung Hoa viết : "Trà là một loài cây quý ở phương Nam, cây như cây qua lô, lá như lá chi tử (dành dành), hoa như hoa tường vi trắng, quả như quả tinh biền lư, nhị như nhị đinh phương, vị rất hàn." [ Trần Ngọc Thêm 2001: 356].

 1.2. Các truyền thuyết về nguồn gốc việc dùng chè

Người Trung Quốc sáng chế ra một loạt truyền thuyết giải thích nguồn gốc việc dùng trà.

Truyền thuyết thứ nhất: Một lần vua Thần Nông tuần du phương Nam, trên đường mệt mỏi, khô khát, dừng lại đun nước uống thì tình cờ có vài chiếc lá chè hoang rơi vào nồi. Khi vua uống thì từ thấy nước tỏa hương thơm quyến rũ, uống vào như trút hết mệt mỏi đường trường. Từ đó trà được coi như là một loại thuốc và tục uống trà truyền bá khắp nơi.

Truyền thuyết thứ hai: một hôm khi Đức Phật Gautama đang ngồi trầm ngâm trong vườn thì một chiếc lá chè hoang bỗng rơi vào cốc của Ngài, thật tình cờ Ngài đã phát hiện ra thức uống này.

Truyền thuyết thứ ba: Vào thế kỉ VI, thiền sư Ấn Độ Bồ Đề Đạt Ma ngủ quên trong buổi tọa thiền. Khi tỉnh giấc, ngài bèn bực tức cắt hai mi mắt vứt xuống đất. Chỗ đó mọc lên hai khóm cây chè, biểu trưng cho sự đốn ngộ về thể xác và tinh thần. Vì thế mà về sau các thiền sư  luôn sùng kính cây chè và thường trồng cạnh các tự viện [Vương Tùng Nhân 2004: 17-19; N.H. 2002: 23; http://en.wikipedia.org/wiki/tea].

Người Nhật cũng có truyền thuyết kể rằng vào thời Chiến Quốc có một danh  y (300-221 BC), tinh thông 84.000 cây thuốc. Ông dạy cho con được 62.000 cây thì chết. 22.000 cây kia không biết tìm ở đâu cho ra, nào ngờ trên mộ ông mọc lên một cái cây, chứa đủ tinh hoa của 22.000 cây còn lại. Đó là cây trà.

 1.3.  Nguồn gốc gốc tên gọi ‘chè’/ ‘trà’

Theo Iguchi Kaisen, trước khi nhà Hán ra đời, cùng với việc mua bán nô lệ, đã có những người đến vùng mà nay là Vân Nam ở thượng lưu sông Dương Tử để mua trà rồi đem bán ở vùng khác[i].

Về tên gọi, trong tiếng Việt có hai từ “chè” và “trà”. “Chè” là từ thuần Việt, được dùng để chỉ cả cây trồng, lẫn sản phẩm tươi và sản phẩm chế biến (cây chè, chè tươi, chè đen, uống chè). “Chè” còn được mở rộng nghĩa ra để chỉ nước uống từ các loại lá cây khác (chè vối, chè nhân trần), để chỉ món ăn ngọt nấu bằng các chất bột, hạt, củ với đường mật (ăn chè đậu đen, chè thập cẩm). “Trà” là từ mượn từ tiếng Hán, chỉ dùng để chỉ sản phẩm đã qua chế biến mà thôi (uống trà, trà tàu, trà sen).

Trong tiếng Hoa, bên cạnh từ trà 茶, tùy theo địa phương còn có các tên gọi: giả, thiết, mính, xuyển. Trong quyển thượng bộ “Trà kinh” của Lục Vũ có viết: Châu Công nói giả là loại trà đắng; Dương Chấp Kích giải thích người ở miền Tây Nam Ba Thục (Tứ Xuyên) quen gọi trà là thiết; Quách Hoằng Nông lại nói rằng: “Hái sớm là trà, hái muộn là mính, cũng là xuyển” [dẫn theo Vương Hồng Sển 1993: 15-16].

Nếu tính rằng cây chè có nguồn gốc từ Đông Nam Á cổ đại, thì có thể thấy rằng “chè” tiếng Việt là từ có nguồn gốc từ tiếng Đông Nam Á cổ, có quá trình tồn tại lâu đời, nên có phạm vi sử dụng vô cùng rộng rãi (được dùng để chỉ cả cây trồng, cả sản phẩm, cả các loại nước uống các món ăn ngọt khác). Từ tiếng Đông Nam Á cổ, “chè” thâm nhập vào tiếng Hán, biến thành ‘trà”, rồi sau này “trà” tiếng Hán quay trở lại Việt Nam. Thành ra tiếng Việt ngày nay có cả hai từ “chè” và “trà”, và vì xuất hiện sau nên “trà” chỉ giới hạn trong pham vi nghĩa chỉ sản phẩm, trong khi “chè” vì có trước nên đã mang luôn cả nét nghĩa của “trà”.

Trích đăng bài viết của GS.TSKH Trần Ngọc Thêm

 
Support : Creating Website | Johny Template | Mas Template
Copyright © 2014. Đỗ Duy Thanh - Today is a Gift! - All Rights Reserved
Template Modify by Creating Website
Proudly powered by Blogger