Có
nhiều cách định nghĩa Marketing khác nhau. Marketing là quá trình tổ chức lực
lượng bán hàng nhằm bán được những hàng hóa do công ty sản xuất ra. Marketing
là quá trình quảng cáo và bán hàng. Marketing là quá trình tìm hiểu và thỏa mãn
nhu cầu của thị trường. Hay Marketing là làm thị trường, nghiên cứu thị trường
để thỏa mãn nó. Chúng ta cũng có thể hiểu rằng Marketing là các cơ chế kinh tế
và xã hội mà các tổ chức và cá nhân sử dụng nhằm thỏa mãn nhu cầu và mong muốn
của mình thông qua quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.
Theo
Philip Kotler thì marketing được hiểu như sau: Marketing là một quá trình quản
lý mang tính xã hội, nhờ đó mà các cá nhân và tập thể có được những gì họ cần
và mong muốn thông qua việc tạo ra, chào bán và trao đổi những sản phẩm có giá
trị với những người khác.
Khái
niêm này của marketing dựa trên những khái niệm cốt lõi: nhu cầu, mong muốn và
yêu cầu, sản phẩm, giá trị, chi phí và sự hài lòng, trao đổi, giao dịch và các
mối quan hệ, thị trường, marketing và những người làm marketing. Những khái
niệm này được minh hoạ trong hình sau:
Nhu cầu, mong muốn và yêu cầu
Tư duy
marketing bắt đầu từ những nhu cầu và mong muốn thực tế của con người. Người ta
cần thức ăn, không khí, nước, quần áo và nơi ở để nương thân. Ngoài ra người ta
còn rất ham muốn được nghỉ ngơi, học hành và các dịch vụ khác. Họ cũng có sự ưa
chuộng những mẫu mã và nhãn hiệu cụ thể của những hàng hoá dịch vụ cơ bản.
Số liệu
thống kê cho thấy, trong một năm, 249 triệu người Mỹ có thể tiêu dùng hay sử
dụng 67 tỷ quả trứng, 2 tỷ con gà, 5 triệu máy sấy tóc, 133 tỷ km hành khách du
lịch nội địa bằng máy bay và hơn 4 triệu bài giảng của các giáo sư đại học Anh
ngữ. Những hàng tiêu dùng và dịch vụ này đẻ ra yêu cầu phải có hơn 150 triệu
tấn thép, 4 tỷ tấn bông vải và nhiều loại tư liệu sản xuất khác.
Cần
phân biệt rõ các khái niệm nhu cầu, mong muốn và yêu cầu. Nhu cầu của con người
là một trạng thái cảm giác thiếu hụt một sự thoả mãn cơ bản nào đó. Người ta
cần có thức ăn, quần áo, nơi ở, sự an toàn, của cải, sự quý trọng và một vài
thứ khác nữa để tồn tại. Những nhu cầu này không phải do xã hội hay những người
làm marketing tạo ra. Chúng tồn tại như một bộ phận cấu thành cơ thể con người
và nhân thân con người.
Mong
muốn là sự ao ước có được những thứ cụ thể để thoả mãn những nhu cầu sâu xa hơn
đó. Một người Mỹ có nhu cầu thức ăn và mong muốn có có món hamburger, có nhu
cầu về quần áo và mong muốn có bộ đồ Pierrre Cardin, có nhu cầu về sự quý trọng
và muốn có một chiếc xe Mercedes. Trong một xã hội khác thì những nhu cầu này
lại được thoả mãn theo một cách khác: Những người thổ dân Úc thoả mãn cơn đói
của mình bằng chim cánh cụt; Nhu cầu về quần áo bằng mảnh khố; Sự quý trọng
bằng một chuỗi vòng vỏ ốc để đeo cổ. Mặc dù nhu cầu của con người thì ít, nhưng
mong muốn của họ thì nhiều. Mong muốn của con người không ngừng phát triển và
được định hình bởi các lực lượng và định chế xã hội, như nhà thờ, trường học,
gia đình và các công ty kinh doanh.
Yêu cầu
là mong muốn có được những sản phẩm cụ thể được hậu thuẫn của khả năng và thái
độ sẵn sàng mua chúng. Mong muốn trở thành yêu cầu khi có sức mua hỗ trợ. Nhiều
người mong muốn có một chiến xe Mercedes, nhưng chỉ có một số ít người có khả
năng và sẵn sàng mua kiểu xe đó. Vì thế công ty không những phải định lượng xem
có bao nhiêu người mong muốn có sản phẩm của mình, mà điều quan trọng hơn là
phải định lượng xem có bao nhiêu người thực sự sẵn sàng và có khả năng mua nó.
Những
điểm khác biệt nêu trên đã làm sáng tỏ những ý kiến phê bình thường thấy của
những người lên án marketing là “những người làm marketing tạo ra nhu cầu” hay
“những người làm marketing dụ dỗ mọi người mua những thứ mà họ không mong
muốn”. Những người làm marketing không tạo ra nhu cầu, nhu cầu đã tồn tại trước
khi có những người làm marketing. Cùng với những yếu tố ảnh hưởng khác trong xã
hội, những người làm marketing có tác động đến những mong muốn. Họ cổ vũ ý
tưởng là chiếc xe Mercedes sẽ thoả mãn nhu cầu về địa vị xã hội của con người.
Tuy nhiên những người làm marketing không tạo ra nhu cầu về địa vị xã hội. Họ
tác động đến yêu cầu bằng cách làm ra sản phẩm thích hợp, hấp dẫn, vừa túi tiền
và dễ kiếm cho những người tiêu dùng mục tiêu.
Sản phẩm
Người ta thoả mãn những nhu cầu và mong muốn của mình bằng hàng
hoá và dịch vụ. Thuật ngữ sản phẩm ở đây được hiểu là cả hang hoá lẫn dịch vụ.
Ta định nghĩa sản phẩm là bất cứ thứ gì có thể đem chào bán để thoả mãn một nhu
cầu hay mong muốn. Ý nghĩa quan trọng của sản phẩm vật chất bắt nguồn không
phải từ việc sở hữu chúng, mà chính là từ việc có được những dịch vụ mà chúng
đem lại. Ta mua một chiếc xe không phải để ngắm nhìn nó mà vì nó cung ứng vận
chuyển. Ta mua một cái bếp không phải để chiêm ngưỡng mà vì nó đảm bảo dịch vụ
nấu nướng. Vì vậy các sản phẩm vật chất thực sự là những phương tiện đảm bảo
phục vụ chúng ta.
Thực ra
thì dịch vụ còn do những yếu tố khác đảm bảo, như con người, địa điểm, các hoạt
động, tổ chức và ý tưởng. Nếu ta cảm thấy buồn thì ta có thể đến một câu lạc bộ
hài kịch để xem một diễn viên hài biểu diễn, gia nhập câu lạc bộ độc thân (tổ
chức) hay chấp nhân triết lý sống khác nhau (ý tưởng). Vì thế ta sẽ sử dụng
thuật ngữ sản phẩm để ám chỉ sản phẩm vật chất, sản phẩm dịch vụ và những
phương tiện khác có khả năng thoả mãn một mong muốn hay một nhu cầu. Đôi khi ta
cũng sẽ sử dụng những thuật ngữ khác nhau thay cho sản phẩm, như hàng hoá, yếu
tố thoả mãn hay nguồn tài nguyên.
Các nhà
sản xuất hay phạm sai lầm là chú trọng đến các sản phẩm vật chất của mình hơn
là đến những dịch vụ mà những sản phẩm đó thực hiện. Họ chỉ nghĩ đến việc tiêu
thụ sản phẩm chứ không phải việc đảm bảo giải quyết một nhu cầu. Thế nhưng một
người phụ nữ lại không mua cục sáp môi, mà bà ta lại mua “một niềm hy vọng” làm
đẹp cho mình. Người thợ mộc không mua một cái khoan, mà mua một “lỗ khoan”. Đối
tượng vật chất chỉ là một phương tiện bao gói một dịch vụ. Công việc của người
làm marketing là bán những lợi ích hay dịch vụ chứa đựng trong những sản phẩm
vật chất, chứ không phải là mô tả những tính chất vật lý của chúng. Những người
bán chỉ chú tâm đến sản phẩm vật chất chứ không phải nhu cầu của người tiêu
dung là người mắc bệnh “thiển cận marketing”.
Giá trị chi phí và sự thoả mãn
Trong
số rất nhiều những sản phẩm có thể thoả mãn một nhu cầu nhất định, người tiêu
dùng sẽ lựa chọn như thế nào? Giả sử, hàng ngày một người phải đi làm xa 3 dặm.
Có một số sản phẩm có thể thoả mãn được nhu cầu này: patanh, xe đạp, xe gắn
máy, ô tô, taxi và xe buýt. Những phương án này tạo nên một tập khả năng lựa
chọn sản phẩm. Giả sử người đó muốn thoả mãn một số nhu cầu phụ thêm trên đường
đi làm, cụ thể là tốc độ, an toàn, thoải mái và tiết kiệm. Ta gọi đó là tập nhu
cầu. Bây giờ thì mỗi sản phẩm có một khả năng khác nhau để thoả mãn những nhu
cầu khác nhau của người đó. Chẳng hạn như xe đạp thì chậm hơn, kém an toàn và
tốn sức hơn là ô tô, nhưng lại tiết kiệm hơn. Dù thế nào đi nữa thì người đó
cũng phải quyết định sản phẩm nào sẽ đảm bảo thoả mãn nhu cầu đầy đủ nhất.
Khái
niệm chủ đạo là giá trị đối với khách hàng. Người đó sẽ đánh giá khả năng của
từng sản phẩm thoả mãn tập nhu cầu của mình. Anh ta có thể xếp hạng các sản
phẩm từ loại thoả mãn nhiều nhu cầu nhất đến đến loại thoả mãn ít nhu cầu nhất.
Giá trị là sự đánh giá của người tiêu dùng về khả năng chung của sản phẩm thoả
mãn những nhu cầu của mình.
Ta có
thể yêu cầu anh ta hình dung những đặc điểm của một sản phẩm lý tưởng đối với
những nhiệm vụ đó. Anh ta có thể trả lời rằng sản phẩm lý tưởng sẽ đưa anh ta
đến chỗ làm trong giây lát với sự an toàn tuyêt đối, không mất sức và chi phí
bằng không. Khi đó giá trị của mỗi sản phẩm thực tế sẽ phụ thuộc vào mức độ nó
gần với sản phẩm lý tưởng đó.
Giả sử
rằng anh ta quan tâm hàng đầu đến tốc độ và sự thoải mái khi đi làm. Nếu anh ta
được sử dụng miễn phí bất kỳ sản phẩm nào trong số đó, thì ta có thể đoán trước
được là anh ta sẽ chọn ô tô. Nhưng bây giờ mới nảy sinh vướng mắc: chi phí để
mua ô tô lớn hơn nhiều so với chi phí để mua một chiếc xe đạp, do đó anh ta sẽ
phải từ bỏ nhiều thứ khác (có giá trị) để mua ô tô. Vì thế anh ta sẽ xem xét
giá trị và giá cả của sản phẩm trước khi anh ta chọn. Anh ta sẽ chọn sản phẩm
nào tạo ra giá trị lớn nhất trên một đồng USD.
Các nhà
nghiên cứu về hành vi của người tiêu dùng ngày nay đã vượt ra ngoài khuôn khổ
chật hẹp của những giả thuyết kinh tế về cách thức người tiêu dùng xét đoán giá
trị và lựa chọn sản phẩm.
Trao đổi, giao dịch và các mối
quan hệ
Việc con người có những nhu cầu và mong muốn và có thể gắn cho các
sản phẩm một giá trị vẫn chưa nói lên hết được ý nghĩa của marketing.
Markerting xuất hiện khi người ta quyết định thoả mãn những nhu cầu và mong
muốn thông qua trao đổi. Trao đổi là một trong bốn cách để người ta có được các
sản phẩm.
Cách
thứ nhất là tự sản xuất. Người ta có thể tự giải quyết cơn đói bằng cách săn
bắn, đánh cá hay hái lượm trái cây. Họ không cần phải quan hệ với bất kỳ ai
khác. Trong trường hợp này, không có thị trường và cũng không có marketing.
Cách
thứ hai là cưỡng đoạt. Những người đói có thể cướp giật hay đánh cắp thức ăn
của những người khác. Những người khác đó không được lợi gì ngoại trừ một điều
là không bị thương.
Cách thứ
ba là đi xin. Những người đói có thể đến xin người khác thức ăn. Họ không có
thứ gì hữu hình để trao đổi, ngoại trừ lời cảm ơn.
Cách
thứ tư là trao đổi. Những người đói có thể đem đến người khác tiền, loại hàng
hoá khác hay dịch vụ để đổi lấy thức ăn.
Marketing
phát sinh từ phương thức kiếm sản phẩm thứ tư này. Trao đổi là hành động tiếp
nhận một sản phẩm mong muốn từ một người nào đó bằng cách đưa cho người đó
những thứ gì đó. Trao đổi là một khái niệm quyết định, tạo nền móng cho
marketing. Trao đổi chỉ xảy ra khi thoả mãn đủ điều kiện sau:
1. Ít nhất phải có hai bên.
2. Mỗi bên phải có một thứ gì đó có thể có giá trị đối với bên kia.
3. Mỗi bên phải có khả năng tự giao dịch và chuyển giao hàng hoá của
mình.
4. Mỗi bên đều có quyền tự do chấp nhận hay khước từ lời đề nghị của
bên kia.
5. Mỗi bên đều tin chắc là mình nên hay muốn giao dịch với bên kia.
Nếu có đủ năm điều kiện này thì mới có tiềm năng trao đổi. Còn
việc trao đổi có thực sự diễn ra hay không là còn tuỳ thuộc vào vấn đề hai bên
có thể thảo thuận được những điều kiện trao đổi có lợi cho cả hai bên (hay chí
ít cũng không có hại) so với trước khi trao đổi. Chính vì ý nghĩa này mà trao
đổi được xem như là một quá trình tạo ra giá trị, nghĩa là trao đổi thường làm
cho cả hai bên có lợi hơn trước khi trao đổi.
Trao
đổi phải được xem như là một quá trình chứ không phải là một sự việc. Hai bên
được xem như là đã tham gia trao đổi nếu họ đang thương lượng để đi đến một
thoả thuận. Khi đạt được một thoả thuận thì ta nói giao dịch đã diễn ra. Giao
dịch là đơn vị cơ bản của trao đổi. Giao dịch là một vụ mua bán những giá trị
giữa hai bên. Ta có thể đoán chắc rằng: bên A đã đưa cho bên B vật X và đã nhận
lại vật Y. Tuy nhiên giao dịch không đòi hỏi phải có tiền như một trong những
giá trị được mua bán. Giao dịch trao đổi hàng có nghĩa là người này đưa cho
người kia một chiếc tủ lạnh và nhận một chiến TV. Giao dịch hàng đổi hàng cũng
có thể là mua bán dịch vụ thay vì hàng hoá, như khi mà luật sư viết một tờ di
chúc cho bác sỹ để đổi lấy việc khám bệnh…
Giao
dịch đòi hỏi phải có một yếu tố: ít nhất có hai giá trị, những điều kiện thực
hiện đã được thoả thuận, thời gian thực hiện đã thoả thuận, địa điểm thực hiện
đã được thoả thuận. Thông thường có cả một hệ thống luật pháp hậu thuẫn và bắt
buộc các bên giao dịch phải thực hiện đúng các phần cam kết của mình. Giao dịch
rất dễ làm phát sinh mâu thuẫn do hiểu lầm hay cố tình. Không có “luật hợp
đồng” thì mọi người sẽ thiếu tin cậy vào giao dịch và tất cả đều bị thua thiệt.
Các
doanh nghiệp để theo dõi các vụ giao dịch của mình và phân loại chúng theo mặt
hàng, giá cả, địa điểm và những biến cố khác. Phân tích doanh số bán là việc
phân tích nguồn gốc doanh thu của công ty theo sản phẩm, khách hàng và địa bàn…
Giao dịch khác với chuyển giao. Trong chuyển giao bên A đưa cho
bên B vật X nhưng không nhận lại vật gì hữu hình. Khi bên A đưa cho bên B một
món quà, một khoản tiền trợ cấp hay một khoản đóng góp từ thiện, thì ta nói đó
là một vụ chuyển giao chứ không phải giao dịch. Dường như marketing chỉ giới
hạn ở việc nghiên cứu giao dịch chứ không phải chuyển giao. Tuy nhiên hành vi
chuyển giao cũng có thể được tìm hiểu qua khái niệm trao đổi. Thông thường
người chuyển giao có những kỳ vọng nhât định đối với việc tặng quà, như nhận
được một lời cảm ơn hay được thấy người nhận có những hành vi tốt hơn. Những
người quyên góp quỹ chuyên nghiệp hiểu rất rõ động cơ “có đi có lại” của những
nhà hảo tâm và mời họ đến dự các buổi lễ. Gần đây những người làm marketing đã
mở rộng khái niệm marketing để nó bao hàm nhiều việc nghiên cứu hành vi chuyển
giao cũng như hành vi giao dịch.
Theo ý
nghĩa chung nhất thì người làm marketing đang tìm cách tạo cho được hành vi
phản ứng từ phía bên kia. Một công ty kinh doanh thì muốn phản ứng đó là hành
vi mua hang, một ứng viên chính trị thì muốn phản ứng đó là hành vi bỏ phiếu,
nhà thờ thì muốn phản ứng đó là hành vi theo đạo, nhóm hoạt động xã hội thì
muốn phản ứng đó là hành vi chấp nhận ý tưởng của mình. Marketing bao gồm những
hoạt động được tiến hành nhằm tạo ra những phản ứng mong muốn đối với một đối
tượng từ phía công chúng mục tiêu.
Để đảm
bảo các cuộc trao đổi diễn ra trôi chảy, người làm marketing phải phân tích xem
mỗi bên dự kiến sẽ cho và nhận cái gì. Những tình huống trao đổi giản đơn có
thể biểu diễn bằng một hồ sơ trong đó có hai người tham gia cùng những thứ mong
muốn và lời mời chào lưu thông giữa họ.
Đến đây
ta đã thấy bản chất của marketing giao dịch. Maketing giao dịch là một bộ phận
ý tưởng lớn hơn là marketing quan hệ. Những người làm marketing khôn ngoan đều
cố gắng xây dựng những quan hệ lâu dài, đáng tin cậy, cùng có lợi với những
khách hàng lớn, những người phân phối, đại lý và những người cung ứng. Việc này
được thực hiện bằng cách hứa hẹn và luôn đảm bảo chất lượng cao, dịch vụ chu
đáo và giá cả phải chăng cho phía bên kia. Nhiệm vụ đó cũng được thực hiện bằng
cách xây dựng những mối quan hệ ràng buộc chặt chẽ về kinh tế, kỹ thuật và xã
hội với các bên đối tác. Marketing quan hệ sẽ làm giảm được chi phí và thời
gian giao dịch và trong những trường hợp tốt đẹp nhất giao dịch sẽ làm chuyển
từ chỗ phải thương lượng từng lần sang chỗ trở thành công việc thường lệ.
Kết quả
cuối cùng của marketing quan hệ là hình thành được một tài sản độc đáo của công
ty, gọi là mạng lưới marketing bao gồm công ty và những người cung ứng, những
người phân phối và khách hàng của mình mà công ty đã xây dựng được những mối
quan hệ vững chắc, tin cậy trong kinh doanh. Marketing ngày càng có xu hướng
chuyển từ chỗ cố gắng tăng tối đa lợi nhuận trong từng vụ giao dịch sang chỗ
tăng tối đa những mối quan hệ đôi bên cùng có lợi với các đối tác. Nguyên tắc
làm việc là phải xây dựng được những mối quan hệ tốt rồi tự khắc các vụ giao
dịch sẽ có lợi.
Thị trường
Thị trường bao gồm tất cả các khách hàng hiện tại và tiềm ẩn cùng
có một nhu cầu hay mong muốn cụ thể, sẵn sàng và có khả năng tham gia trao đổi
để thỏa mãn nhu cầu hay mong muốn đó.
Như vậy
quy mô của thị trường phụ thuộc vào một số người có nhu cầu và có những tài
nguyên được người khác quan tâm, và sẵn sàng đem lại những tài nguyên đó để đổi
lấy cái mà họ mong muốn.
Lúc đầu
thuật ngữ thị trường được hiểu là nơi mà người mua và người bán gặp nhau để
trao đổi hàng hóa, chẳng hạn như một cái chợ của làng. Các nhà kinh tế sử dụng
thuật ngữ thị trường để chỉ một tập thể những người mua và người bán giao dịch
với nhau vể một sản phẩm hay một lớp sản phẩm cụ thể, như thị trường nhà đất,
thị trường ngũ cốc...Tuy nhiên, những người làm marketing lại coi người bán họp
thành ngành sản xuất, coi người mua họp thành thị trường.
Những
người kinh doanh sử dụng thuật ngữ thị trường để chỉ nhóm khách hàng khác nhau.
Họ nói về thị trường nhu cầu (chẳng hạn như thị trường thực phẩm thường ngày),
thị trường sản phẩm (thị trường giày dép), thị trường nhân khẩu (như thị trường
thanh niên) và thị trường địa lý (như thị trường Việt Nam). Hay họ còn mở rộng
khái niệm để chỉ cả những nhóm không phải khách hàng, như thị trường cử tri,
thị trường sức lao động và thị trường nhà hảo tâm.
Thực tế
thì những nền kinh tế hiện đại đều hoạt động theo nguyên tắc phân công lao động
trong đó mỗi người chuyên sản xuất một thứ gì đó, nhận tiền thanh toán rồi mua
những thứ cần thiết bằng số tiền đó. Như vậy là nền kinh tế hiện đại có rất
nhiều thị trường. Chủ yếu các nhà sản xuất tìm đến các thị trường tài nguyên
(thị trường nguyên liệu, thị trường sức lao động, thị trường tiền tệ...) mua
tài nguyên, biến chúng thành hàng hóa và dịch vụ, bán chúng cho những người
trung gian để những người trung gian sẽ bán chúng cho những người tiêu dùng.
Người tiêu dùng bán sức lao động của mình lấy tiền thu nhập để thanh toán cho
những hàng hóa và dịch vụ mà họ mua. Nhà nước là một thị trường khác có một số
vai trò. Nhà nước mua hàng hóa từ các thị trường tài nguyên, thị trường nhà sản
xuất và thị trường người trung gian, thanh toán tiền cho họ, đánh thuế các thị
trường đó (kể cả thị trường người tiêu dùng), rồi đảm bảo những dịch vụ công
cộng cần thiết. Như vậy là mỗi nền kinh tế quốc gia và toàn bộ nền kinh tế thế
giới hợp thành những tập hợp thị trường phức tạp tác động qua lại với nhau và
liên kết với nhau thông qua các quá trình trao đổi.
Như
vậy, khái niệm thị trường đã đưa ta quay lại điểm xuất phát là khái niệm
marketing. Marketing có nghĩa là hoạt động của con người diễn ra trong mối quan
hệ với thị trường. Marketing có nghĩa là làm việc với thị trường để biến những
trao đổi tiềm ẩn thành hiện thực với mục đích là thỏa mãn những nhu cầu và mong
muốn của con người.
Nếu một
bên tích cực tìm kiếm cách trao đổi hơn bên kia, thì ta gọi bên thứ nhất là
người làm marketing còn bên thứ hai là khách hàng triển vọng. Người làm
marketing là người tìm kiếm tài nguyên từ một người khác và sẵn sàng đưa ra một
thứ gì đó có giá trị trao đổi. Người làm marketing tìm kiếm một phản ứng từ
phía bên kia để bán hoặc mua một thứ gì đó. Nói cách khác, người làm marketing
có thể là người bán hay người mua. Giả sử, có một số người muốn mua một ngôi
nhà hấp dẫn vừa mới xây xong. Như vậy là những người mua đó cũng đang làm
marketing! trong trường hợp cả hai bên đều tích cực tìm cách trao đổi, thì ta
nói rằng cả hai bên đều là người làm marketing và gọi trường hợp đó là
marketing lẫn nhau.
Trong
trường hợp bình thường người làm marketing là một công ty phục vụ thị trường
người sử dụng cuối cùng đối mặt với các đối thủ cạnh tranh. Công ty và các đối
thủ cạnh tranh đều gửi sản phẩm tương ứng và thông điệp cho người sử dụng cuối
cùng một cách trực tiếp hay thông qua các định chế trung gian marketing (những
người trung gian và những người xúc tiến thương mại). Hiệu quả tương đối của họ
chịu ảnh hưởng của những người cung ứng tương ứng cũng như của những lực lượng
chính của môi trường (nhân khẩu học, kinh tế, vật chất, kỹ thuật, chính trị
pháp lý, xã hội/văn hóa).
Sau khi
nghiên cứu kỹ những khái niệm này chúng ta xin được nhắc lại khái niệm
marketing như sau: Marketing là những cơ chế kinh tế và xã hội mà các tổ chức
và cá nhân sử dụng nhằm thoả mãn những nhu cầu và đòi hỏi (mong muốn) của mình
thông qua các quy trình trao đổi sản phẩm trên thị trường.

