Các
công ty , những người cung ứng, những người trung gian Marketing, khách hàng,
các đối thủ cạnh tranh và công chúng đều hoạt động trong một môi trường vĩ mô
rộng lớn của các lực lượng và xu hướng tạo ra những cơ hội đồng thời cũng làm
nảy sinh những mối đe dọa. Những lực lượng này là những lực lượng "không
thể khống chế được" mà công ty phải theo dõi và đối phó. Trong số những
lực lượng xã hội mới có phong trào xanh, phong trào phụ nữ, quyền đồng tình
luyến ái, v...v. Trong số các lực lượng kinh tế có tác động ngày càng tăng của
sự cạnh tranh toàn cầu. Các công ty và người tiêu dùng ngày càng phải chịu
nhiều tác động của những lực lượng toàn cầu. Trong bức tranh toàn cầu đang biến
đổi nhanh chóng công ty phải theo dõi sáu lực lượng chủ yếu, cụ thể là các lực
lượng nhân khẩu, kinh tế, tự nhiên, công nghệ, chính trị và văn hóa.
Môi trường nhân khẩu
Lực
lượng đầu tiên của môi trường cần theo dõi là dân số, bởi vì con người tạo nên
thị trường. Những người làm Marketing quan tâm sâu sắc đến quy mô và tỷ lệ tăng
dân số ở các thành phố, khu vực và quốc gia khác nhau, sự phân bố tuổi tác và
cơ cấu dân tộc, trình độ học vấn, mẫu hình hộ gia đình, cũng như các đặc điểm và
phong trào của khu vực. Chúng ta sẽ nghiên cứu những đặc điểm và xu hướng chủ
yếu về nhân khẩu và minh họa những hàm ý của chúng đối với việc lập kế hoạch
Marketing.
Sự bùng nổ dân số trên toàn thế
giới
Sự bùng
nổ dân số thế giới là một mối lo chủ yếu của các chính phủ và các tổ chức khác
nhau trên khắp thế giới. Cơ sở của mối quan tâm này gồm hai yếu tố. Thứ nhất là
các nguồn tài nguyên của trái đất có hạn, không thể đảm bảo cuộc sống cho một
số lượng người đông như vậy, đặc biệt là với mức sống mà mọi người khao khát
muốn có.
Nguyên
nhân thứ hai gây ra mối lo ngại là mức tăng dân số đạt cao nhất ở những nước và
cộng đồng ít có khả năng đảm bảo cuộc sống nhất. Những khu vực kém phát triển
trên thế giới hiện chiếm 76% dân số thế giới và đang tăng lên với tốc độ 2% mỗi
năm, trong khi dân số ở những khu vực phát triển hơn của thế giới chỉ tăng 0,6%
mỗi năm.
Cơ cấu tuổi của dân số quyết
định các nhu cầu
Dân số
có thể chia thành sáu nhóm tuổi: Chưa đến tuổi đi học, tuổi đi học, thiếu niên,
thanh niên tuổi từ 25 đến 40, trung niên tuổi từ 40 đến 65 và cao niên tuổi từ
65 trở lên. Đối với những người làm Marketing, đó là những dấu hiệu cho biết
những loại sản phẩm và dịch vụ nào sẽ có nhu cầu lớn trong vài năm tới. Ví dụ,
nhóm người cao niên tăng sẽ dẫn đến chỗ tăng nhu cầu của những cộng đồng cần
giúp đỡ trong cuộc sống, về những mặt hàng định suất nhỏ, trang thiết bị y tế.
Những cửa hàng cung cấp thực phẩm cho những người cao niên sẽ cần chiếu sáng
mạnh hơn, các bảng yết thị phải in chữ to hơn, và phòng nghỉ ngơi an toàn.
Những
người làm Marketing ngày càng hay cố gắng phân nhỏ các nhóm tuổi hơn nữa đối
với các thị trường mục tiêu. Những nhóm đó mang ký hiệu viết tắt như sau:
+ Học
sinh có thu nhập và sức mua
+ Bà
già, trẻ sơ sinh
+ Thu
nhập gấp đôi, không có con
+ Hai
người kiếm tiền và có con
+ Những
người cao niên sung túc
Mỗi
nhóm có một số nhu cầu sản phẩm và dịch vụ nhất định, những sở thích về phương
tiện truyền thông và hình thức bán lẻ, sẽ giúp các người làm Marketing xác định
chi tiết hơn những hàng hóa tùng ra thị trường của mình.
Dân tộc
Các
nước có cơ cấu dân tộc và chủng tộc rất khác nhau. Nhật là một thái cực, vì ở
đó mọi người đều là người Nhật, còn Hoa Kỳ thì nằm ở thái cực kia, vì dân chúng
có nguồn gốc từ hấu như tất cả các nước. Đầu tiên Hoa Kỳ được gọi là nơi hỗn
cư, thế nhưng ngày càng thấy rõ những dấu hiệu cho thấy rằng sẽ không có nơi
hỗn cư. Bây giờ người ta lại gọi Hoa Kỳ là một xã hội "hổ lốn" với
các nhóm sắc tộc vẫn duy trì những điểm khác biệt của dân tộc, quan hệ hàng xóm
láng giềng và các nền văn hóa. Dân số Hoa Kỳ (năm 1990 là 249 triệu) gồm 80% là
da trắng, 12% da đen và 3% là dân Châu Á. Mỗi nhóm dân cư có những mong muốn
nhất định và những thói quen mua sắm nhất định.
Các nhóm trình độ học vấn
Trong
bất kỳ xã hội nào dân cư cũng được phân thành năm nhóm trình độ học vấn: Mù
chữ, học dở dang trung học, tốt nghiệp trung học, tốt nghiệp đại học và tốt
nghiệp nghiệp vụ chuyên môn. Ở Nhật 99% dân cư biết chữ, trong khi ở Hoa Kỳ 10%
- 15% dân cư có thể không biết gì về nghiệp vụ chuyên môn. Mặt khác, Hoa Kỳ lại
là nước có tỷ lệ phần trăm công dân tốt nghiệp đại học cao nhất, khoảng 20%.
Các kiểu hộ gia đình
Mọi
người đều nghĩ, một hộ gia đình truyền thống gồm chồng, vợ và con cái (đôi khi
cả ông bà). Ngày nay ở Hoa Kỳ hộ gia đình truyền thống không còn là kiểu hộ gia
đình phổ biến nữa. Hộ gia đình ngày nay gồm người độc thân sống một mình, những
người lớn tuổi cùng giới hay khác giới sống chung với nhau, những gia đình chỉ
có bố hoặc mẹ, những cặp vợ chồng không có con, và những tổ ấm trống trải. Mỗi
nhóm có những nhu cầu và thói quen mua sắm riêng. Ví dụ, nhóm độc thân, ly
thân, góa bụa, ly dị cần những căn hộ nhỏ hơn, những thiết bị không đắt tiền và
nhỏ hơn, đồ gỗ và trang trí nội thất không đắt tiền và thực phẩm đóng gói nhỏ
hơn. Những người làm Marketing phải chú ý nghiên cứu ngày càng nhiều hơn những
nhu cầu đặc biệt của những hộ gia đình không theo truyền thống này, vì số hộ
gia đình kiểu này đang tăng nhanh hơn số hộ gia đình truyền thống.
Dịch chuyển từ thị trường đại
chúng sang các vi thị trường
Tác
động của tất cả những thay đổi này đã dẫn đến việc chia nhỏ thị trường đại
chúng thành rất nhiều những vi thị trường khác nhau về lứa tuổi, giới tính và
dân tộc, trình độ học vấn, địa lý, lối sống, v...v. mỗi nhóm có những sở thích
rõ rệt và những đặc điểm tiêu dùng riêng và được tiếp cận thông qua những kênh
thông tin và phân phối ngày càng có mục tiêu rõ rệt hơn. Các công ty đã từ bỏ
dần phương thức "ăn xổi" nhằm vào người tiêu dùng "trung
bình" giả định và ngày càng chuyển sang thiết kế những sản phẩm và chương
trình Marketing của mình cho những vi thị trường nhất định.
Môi trường kinh tế
Thị
trường cần có sức mua và công chúng. Sức mua hiện có trong một nền kinh tế phụ
thuộc vào thu nhập hiện có, giá cả, lượng tiền tiết kiệm, nợ nần và khả năng có
thể vay tiền. Những người làm Marketing phải theo dõi chặt chẽ những xu hướng
chủ yếu trong thu nhập và các kiểu chi tiêu của người tiêu dùng.
Phân phối thu nhập
Các nước rất khác nhau về mức và cách phân phối thu nhập. Yếu tố
quyết định là cơ cấu công nghiệp.
Trong
nền kinh tế tự túc tuyệt đại bộ phận dân cư làm nông nghiệp đơn thuần. Họ tiêu
dùng hầu hết sản phẩm làm ra và đem trao đổi số còn lại để lấy những hàng hóa
và dịch vụ đơn giản. Họ tạo rất ít cơ hội cho những người làm Marketing.
Những
nền kinh tế “xuất nguyên liệu” thường giàu một hay nhiều nguồn tài nguyên thiên
nhiên, nhưng nghèo về các mặt khác. Phần lớn thu nhập đều do xuất khẩu những
tài nguyên đó mà có. Ví dụ như Zaire (cao su) và Ả Rập Sau di (dầu mỏ). Những
nước này là thị trường tốt đối với các thiết bị tách nhiệt, các công cụ và phụ
tùng, thiết bị bốc xếp vật tư và xe vận tải.
Trong
nền kinh tế đang phát triển, sản xuất bắt đầu chiếm khoảng từ 10 đến 20% tổng
sản phẩm quốc dân của đất nước. Ví dụ như ấn Độ, Ai Cập và Philippines. Khi sản
xuất tăng lên đất nước phải dựa nhiều hơn vào việc nhập khẩu nguyên liệu, sắt
thép, máy móc hạng nặng và ít phải nhập khẩu lưới đánh cá, các sản phẩm của
giấy và thực phẩm chế biến. Quá trình công nghiệp hóa đã tạo ra một giai tầng
mới, giàu có và một tầng lớp trung lưu nhỏ nhưng đang phát triển lên, cả hai
tầng lớp này đều yêu cầu những kiểu hàng hoá mới, trong số đó có một số phải
nhập khẩu.
Còn
trong nền kinh tế công nghiệp là người xuất khẩu chủ yếu những hàng hóa làm ra
và vốn đầu tư. Họ mua hàng công nghiệp của nhau và cũng xuất khẩu cho nhau như
các kiểu nền kinh tế khác để trao đổi nguyên liệu và các bán thành phẩm. Những
hoạt động sản xuất to lớn và đa dạng của những nước công nghiệp này và tầng lớp
trung lưu rất đông đảo của họ đã làm cho những nước này trở thành những thị
trường giàu có đối với tất cả các loại hàng hóa.
Phân
phối thu nhập có quan hệ với cơ cấu công nghiệp của đất nước, nhưng đồng thời
cũng chịu ảnh hưởng của hệ thống chính trị. Người làm Marketing phân các nước
theo năm kiểu phân phối thu nhập khác nhau: (1) Thu nhập rất thấp, (2) Phần lớn
có thu nhập thấp, (3) thu nhập rất thấp, rất cao, (4) thu nhập thấp, trung
bình, cao, và (5) phần lớn có thu nhập trung bình.
Tiết kiệm, nợ, khả năng vay
tiền
Việc
chi tiêu của người tiêu dùng chịu ảnh hưởng của việc tiết kiệm, nợ nần và khả
năng vay tiền. Ví dụ, người Nhật tiết kiệm khoảng 18% thu nhập của mình, trong
khi những người tiêu dùng Hoa Kỳ chỉ tiết kiệm khoảng 6%. Kết quả là các ngân
hàng Nhật có thể cho các công ty Nhật vay tiền với lãi suất thấp hơn nhiều so
với các ngân hàng Hoa Kỳ, và chính khả năng có được vốn rẻ hơn này đã giúp các
công ty Nhật phát triển nhanh hơn. Những người tiêu dùng Hoa Kỳ cũng có tỷ lệ
nợ trên thu nhập cao và điều này lại làm chậm lại những khoản chi tiêu cho nhà
ở và những mặt hàng cao cấp. ở Hoa Kỳ có khả năng vay tín dụng rất dễ, song lãi
suất khá cao, đặc biệt là đối với những người đi vay có thu nhập tương đối
thấp. Những người làm Marketing phải theo dõi kỹ lưỡng mọi biến động lớn trong
thu nhập, giá sinh hoạt, lãi suất, các kiểu tiết kiệm và vay tiền, bởi vì chúng
có thể có ảnh hưởng lớn, đặc biệt là đến những công ty, những sản phẩm có mức
độ nhạy cảm cao đối với thu nhập và giá.
Môi trường tự nhiên
Trong
những năm 1990 điều kiện của môi trường tự nhiên ngày cầng xấu đi đã trở thành
một trong những vấn đề quan trọng đặt ra trước các doanh nghiệp và công chúng.
ở nhiều thành phố trên thế giới tình trạng ô nhiễm không khí và nước đã đạt tới
mức độ nguy hiểm. Một mối lo rất lớn là các hóa chất công nghiệp đã tạo ra lỗ
thủng trên tầng ozone gây nên hiệu ứng nhà kính, tức là làm cho trái đất nóng
lên đến mức độ nguy hiểm. ở Tây Âu, các đảng "xanh" đã gây sức ép rất
mạnh đòi phải có những hành động chung làm giảm ô nhiễm trong công nghiệp.
Những
người làm Marketing cần nhạy bén với những mối đe dọa và cơ hội gắn liền với
bốn xu hướng trong môi trường tự nhiên.
Thiếu hụt nguyên liệu
Vật
chất của trái đất có loại vô hạn, loại hữu hạn, có thể tái tạo được và loại hữu
hạn không tái tạo được. Nguồn tài nguyên vô hạn, như không khí, không đặt ra
vấn đề cấp bách, mặc dù có một số nhóm đã thấy có mối nguy hiểm lâu dài. Các
nhóm bảo vệ môi trường đã vận động cấm sử dụng một số chất đẩy nhất định trong
các bình xịt, vì chúng có khả năng phá huỷ tầng ozone của khí quyển. ở một số
khu vực trên thế giới, nước đã là một vấn đề lớn.
Những
nguồn tài nguyên hữu hạn, tái tạo được, như rừng và thực phẩm, cần được sử dụng
một cách khôn ngoan. Những nguồn tài nguyên hữu hạn không tái tạo được, như dầu
mỏ, than đá, kẽm, bạc, sẽ đặt ra một vấn đề nghiêm trọng khi gần đến lúc bị cạn
kiệt.
Chi phí năng lượng tăng
Một
nguồn tài nguyên hữu hạn không thể tái tạo - dầu mỏ - đã đẻ ra những vấn đề
nghiệm trong cho nền kinh tế thế giới. Giá dầu mỏ tăng vọt đã thúc đẩy việc tìm
kiếm ráo riết những dạng năng lượng khác. Than đá lại trở nên phổ biến và các
công ty đã tìm kiếm những phương tiện có ý nghĩa thực tiễn để khai thác năng
lượng mặt trời, hạt nhân, gió và các dạng năng lượng khác. Chỉ riêng trong lĩnh
vực năng lượng mặt trời đã có hàng trăm công ty tung ra những sản phẩm thế hệ
đầu tiên để khai thác năng lượng mặt trời phục vụ sưởi ấm nhà ở và các mục đích
khác. Một số công ty đã tìm cách chế tạo ô tô điện có giá trị thực tiễn và treo
giải thưởng hàng tỷ bạc cho người đoạt giải.
Mức độ ô nhiễm tăng
Một số
hoạt động công nghiệp chắc chắn sẽ huỷ hoại chất lượng của môi trường tự nhiên.
Hãy xét việc loại bỏ các chất thải hóa học và hạt nhân, mức độ nhiễm thuỷ ngân
gây nguy hiểm của nước biển, các hóa chất gây ô nhiễm khác trong đất và thực
phẩm và việc vứt bừa bãi trong môi trường những chai lọ, các vật liệu bao bì
bằng nhựa và chất khác không bị phân huỷ sinh học.
Mối lo
lắng của công chúng đã tạo ra một cơ hội Marketing cho những công ty nhạy bén.
Nó đã tạo ra một thị trường lớn cho các giải pháp kiểm soát ô nhiễm, như tháp
lọc khí, các trung tâm tái sinh và hệ thống bãi thải. Nó dẫn đến chỗ tìm kiếm
những phương án sản xuất và bao gói hàng hóa không huỷ hoại môi trường. Những
công ty khôn ngoan thay vì để bị chậm chân, đã chủ động có những chuyển biến
theo hướng bảo vệ môi trường để tỏ ra là mình có quan tâm đến tương lai của môi
trường thế giới.
Môi trường công nghệ
Một lực
lượng quan trọng nhất, định hình cuộc sống của con người là công nghệ. Công
nghệ đã tạo ra những điều kỳ diệu như penicillin, mổ tim mở, và thuốc tránh
thai. Nó cũng đã gây ra những nỗi kinh hoàng như bom khinh khí, khí độc đối với
hệ thần kinh và súng tiểu liên. Nó đã đem lại cho ta những thứ vừa lợi vừa hại,
như ôtô, trò chơi video, bánh mì trắng. Thái độ của người ta đối với công nghệ
tuỳ thuộc vào chỗ người đó nghĩ nhiều đễn những điều kỳ diệu hay những điều
kinh hoàng mà nó đem lại.
Mỗi
công nghệ mới đều là một lực lượng "phá hoại một cách sáng tạo".
Transistor đã gây thiệt hại cho ngành sản xuất bóng điện tử, kỹ thuật sao chụp
xerox đã gây thiệt hại cho nghề sản xuất giấy than, ôtô đã gây thiệt hại cho
ngành đường sắt, và truyền hình đã gây thiệt hại cho báo chí. Đáng lẽ ra những
ngành cũ phải chuyển sang những ngành mới, song nhiều ngành đã chống lại hay
xem thường chúng và kết quả là những xí nghiệp của ngành đó bị suy sụp.
Mỗi
công nghệ đều tạo ra một hậu quảlâu dài quan trọng mà không phải bao giờ cũng
có thể thấy trước được. Ví dụ, thuốc tránh thai làm cho gia đình nhỏ hơn, nhiều
bà vợ đi làm hơn và phần thu nhập được tuỳ ý sử dụng cũng lớn hơn, dẫn đến chi
tiêu nhiều hơn cho chuyện du lịch nghỉ ngơi, mua sắm những hàng hóa lâu bền và
những thứ khác.
Người
làm Marketing phải theo dõi những xu hướng sau đây trong công nghệ.
Sự tăng tốc của việc thay đổi công nghệ
Rất
nhiều sản phẩm thông thường ngày nay cách đây 30 năm không thể kiếm đâu ra.
John F.Kenedy không biết máy tính cá nhân, đồng hồ đeo tay hiện số, đầu máy
video hay máy Fax. Trong cuốn Future Shock của mình Alvin Toffler đã thấy có sự
tăng tốc trong phát minh, khai thác và truyền bá các công nghệ mới. Ngày càng
nhiều ý tưởng đã đem lại kết quả, và thời gian từ khi có những ý tưởng mới đến
khi thực hiện thành công đang được rút ngắn nhanh chóng, và thời gian từ khi
đưa vào sản xuất đến đỉnh cao của sản xuất cũng được rút ngắn đáng kể. Chín
mươi phần trăm những nhà khoa học cũ hiện nay vẫn còn sống, và công nghệ đã tự
nuôi mình.
Những cơ hội đổi mới vô hạn
Ngày
nay các nhà khoa học đang nghiên cứu một loạt những công nghệ mới rất kỳ lạ sẽ
tạo nên một cuộc cách mạng đối với các sản phẩm và các quá trình sản xuất của
ta. Những công trình nghiên cứu lý thú nhất đang được tiến hành trong các lĩnh
vực công nghệ sinh học, điện tử chất rắn, robot học và các khoa học vật liệu.
Ngày nay các nhà khoa học đang nghiên cứu cách chữa bệnh AIDS hữu hiệu hơn,
thuốc trường sinh, thuốc giảm đau, robot làm việc nhà, thuốc tránh thai tuyệt
đối an toàn, và thực phẩm ngon, bổ dưỡng không gây béo. Ngoài ra các nhà khoa
học cũng nghiên cứu những sản phẩm viễn tưởng, như ôtô bay, truyền hình ba
chiều và những khu nhà trong vũ trụ. Trong mọi trường hợp, thách thức không chỉ
là về mặt kỹ thuật, mà là cả về mặt thương mại, tức là phải phát triển được
những phương án vừa túi tiền cho các sản phẩm đó.
Thay đổi ngân sách nghiên cứu và phát triển
Hoa Kỳ
dẫn đầu thế giới về chi phí hằng năm cho nghiên cứu và phát triển (74 tỷ USD),
nhưng gần 60% số kinh phí đó được dành cho quốc phòng. Cần điều chỉnh thêm kinh
phí cho khoa học nghiên cứu vật liệu, công nghệ sinh học và vi cơ khí. Trong
khi Nhật đang tăng chi phí cho nghiên cứu thăm dò những vấn đề cơ bản trong vật
lý, lý sinh và khoa học máy tính.
Phần
kinh phí nghiên cứu và phát triển của Hoa Kỳ dành cho phát triển ngày càng tăng
đã gây nên mối lo là liệu Hoa Kỳ có thể duy trì được vị trí dẫn đầu trong khoa
học cơ bản không. Nhiều công ty đang theo đuổi những cải tiến lặt vặt cho sản
phẩm chứ không giám mạo hiểm đầu tư vào những nghiên cứu đổi mới lớn. Ngay cả
những công ty nghiên cứu cơ bản như Du Pont, Bell Laboratories và Pfizer cũng
làm việc rất thận trọng. Nhiều công ty mưu tính bỏ tiền vào việc sao chép những
sản phẩm của các đối thủ cạnh tranh và chỉ có những cải tiến nhỏ về tính năng
và kiểu dáng. Phần lớn những nghiên cứu đó là để phòng ngự chứ không phải tiến
công. Ngày càng nhiều công trình nghiên cứu nhằm tạo ra bước đột phá quan trọng
là do các tập đoạn công ty thực hiện chứ không phải từng công ty riêng rẽ.
Quy định về thay đổi công nghệ ngày càng chặt chẽ
Khi sản
phẩm ngày càng phức tạp hơn, công chúng cần được bảo đảm an toàn chắc chắn. Vì
vậy các cơ quan nhà nước đã tăng cường quyền lực của mình đối với việc kiểm tra
và nghiêm cấm những sản phẩm có khả năng không an toàn.
Việc
thay đổi công nghệ gặp phải sự chống đối của những người xem đó là một sự đe
dọa tự nhiên, cuộc sống riêng tư, tính chất đơn giản và thậm chí cả loài người
nữa. Nhiều nhóm khác nhau đã phản đối việc xây dựng những nhà máy điện nguyên
tử, những ngôi nhà cao tầng và những cơ sở giải trí trong các vườn quốc gia. Họ
đòi hỏi phải đánh giá các công nghệ mới về mặt công nghệ trước khi thương mại
hóa chúng.
Những
người làm Marketing cần hiểu rõ là môi trường công nghệ luôn thay đổi và nắm
được những công nghệ mới đó có thể phục vụ nhu cầu của con người như thế nào.
Họ cần hợp tác chặt chẽ với những người làm công tác nghiên cứu và phát triển
để khuyến khích họ nghiên cứu hướng theo thị trường nhiều hơn. Họ phải cảnh
giác với những hậu quả không mon muốn của mọi đổi mới có thể gây thiệt hại cho
người sử dụng và tạo ra sự mất tín nhiệm cùng thái độ chống đối của người tiêu
dùng.
Môi trường chính trị
Những
quyết định Marketing chịu tác động mạnh mẽ của những diễn biến trong môi trường
chính trị. Môi trường này gồm có luật pháp, các cơ quan nhà nước và những nhóm
gây sức ép có ảnh hưởng và hạn chế các tổ chức và cá nhân khác nhau trong xã
hội.
Hiện
nay có khá nhiều đạo luật điều chỉnh hoạt động kinh doanh, gây cản trở đến hoạt
động kinh doanh. Luật kinh doanh có một số mục đích. Thứ nhất là bảo vệ các
công ty trong quan hệ với nhau. Các giám đốc điều hành doanh nghiệp đều ca ngợi
cạnh tranh nhưng lại cố gắng vô hiệu cạnh tranh khi nó động chạm đến mình. Khi
bị đe dọa, một số người đã tham gia vào việc định giá rất chi li hay khuyến mãi
hãy những mưu toan xiết chặt việc phân phối. Cho nên đã phải thông qua những
đạo luật xác định và ngăn chặn cạnh tranh không lành mạnh.
Mục
đích thứ hai của việc điều chỉnh của chính quyền là bảo vệ tiêu dùng trước tình
trạng kinh doanh gian dối. Nếu chỉ còn lại một mình, một số công ty sẽ giảm
chất lượng sản phẩm của mình, quảng cáo sai sự thực, đánh lừa bằng bao bì và
dùng giá để câu khách. Nhiều cơ quan đã xác định và ngăn chặn những hành vi
gian dối đối với người tiêu dùng. Nhiều nhà quản trị đã giận dữ mỗi khi có thêm
một đạo luật bảo vệ người tiêu dùng, chỉ có một số rất ít đã cho rằng phong
trào bảo vệ người tiêu dùng có thể là một việc tốt nhất đã làm được.
Mục
đích thứ ba của quy định của chính quyền là bảo vệ lợi ích của xã hội chống lại
những hành vi bừa bãi trong kinh doanh. Có thể xảy ra trường hợp tổng sản phẩm
quốc gia của một nước tăng lên, nhưng chất lượng cuộc sống lại giảm sút. Mục
đích chính của những đạo luật mới và/ hay việc cưỡng chế thi hành là nhằm buộc
các doanh nghiệp phải gánh vác những chi phí xã hội do quá trình sản xuất hay
sản phẩm của họ gây ra.
Tuy
vậy, phận sự của những người làm Marketing là phải nắm vững những đạo luật bảo
vệ cạnh tranh, người tiêu dùng và xã hội. Nói chung, các công ty đều xây dựng
những thủ tục xem xét tính hợp pháp và ban hành những tiêu chuẩn đạo đức để
hướng dẫn những nhà quản trị Marketing của mình. Song có một số những người làm
Marketing vẫn phàn nàn rằng có quá nhiều quyết định Marketing là do bộ phận
pháp lý đưa ra và họ muốn có được quyền tự do hơn một chút trong việc thông qua
quyết định gây trở ngại cho các hoạt động của marketing.
Môi trường văn hóa
Xã hội
mà con người lớn lên trong đó đã định hình niềm tin cơ bản, giá trị và các
chuẩn mực của họ. Con người hấp thụ, hầu như một cách không có ý thức, một thế
giới quan xác định mối quan hệ của họ với chính bản thân mình, với người khác,
với tự nhiên và với vũ trụ. Sau đây là một số đặc điểm và xu hướng văn hóa chủ
yếu mà người làm Marketing cần quan tâm.
Những giá trị văn hóa cốt lõi bền vững
Những
người sống trong một xã hội cụ thể có rất nhiều niềm tin và giá trị cốt lõi có
khuynh hướng tồn tại lâu bền. Chẳng hạn như hầu hết người Mỹ đều tin chắc là
phải làm việc, lập gia đình, làm công việc từ thiện và sống lương thiện. Những
niềm tin và giá trị cốt lõi được truyền từ bố mẹ sang con cái và được các định
chế xã hội, như nhà trường, nhà thờ, doanh nghiệp, nhà nước, củng cố thêm.
Những
niềm tin và giá trị thứ yếu của con người dễ thay đổi hơn. Việc tin tưởng vào
thể chế hôn nhân là một niềm tin cốt lõi, còn việc tin vào điều là người ta
phải lập gia đình sớm là một niềm tin thứ yếu. Những người làm Marketing kế
hoạch hóa gia đình có thể đạt được kết quả nhiều hơn trong việc thuyết phục mọi
người nên thành lập gia đình muộn, chứ không thể thuyết phục họ hoàn toàn không
nên lập gia đình. Những người làm Marketing có một số cơ may để thay đổi những
giá trị thứ yếu chứ rất ít khả năng thay đổi những giá trị cốt lõi.
Mỗi nền văn hóa đều bao gồm những nhánh văn hóa
Mọi xã
hội đều chứa đựng nhiều nhánh văn hóa, tức là những nhóm người khác nhau cùng
chia sẻ những giá trị nảy sinh từ những kinh nghiệm và hoàn cảnh sống nhất
định. Trong trường hợp các nhóm của những nhánh văn hóa thể hiện những mong
muốn và hành vi tiêu dùng khác nhau, thì những người làm Marketing có thể lựa
chọn các nhánh văn hóa làm những thị trường mục tiêu của mình.
Những giá trị văn hóa thứ yếu biến đổi theo thời gian
Mặc dù
những giá trị văn hóa cốt lõi khá bền vững, vẫn có những biến đổi nhất định.
Trong thời kỳ của thập kỷ 60, phong trào "hippi", ban nhạc Beatles,
Elvis Presley, tạp chí Playboy và những hiện tượng văn hóa khác đã có ảnh hưởng
lớn đến cách để tóc, cách ăn mặc, những chuẩn mực về quan hệ nam nữ và mục đích
cuộc sống của lớp trẻ. Lớp trẻ ngày nay lại chịu ảnh hưởng của những nhân vật và
một nhất thời mới: Michael Jordan, Madonna, Bruce Springsteen. Một trong những
hình tượng mới chủ yếu là những nhà chuyên nghiệp trẻ ở thành phố có rất nhiều
tham vọng nghề nghiệp và kiến thức bảo thủ của tuổi trẻ ngày nay.
Những
người làm Marketing hết sức quan tâm đến việc phát hiện những biến đổi về văn
hóa có thể báo trước những cơ hội Marketing và mối đe dọa mới. Một số công ty
đã cung cấp những dự báo xã hội/ văn hóa theo hướng này. Một trong những công
ty nổi tiếng nhất là Yankelovich Monitor. Monitor đã phỏng vấn 2.500 người mỗi
năm và theo dõi 35 xu hướng xã hội, như "chán ghét cái to lớn",
"thuyết huyền nhiệm", "sống vì ngày hôm nay", "lãnh xa
quyền chiếm hữu" và "thích khoái lạc". Nó mô tả tỷ lệ phần trăm
dân cư có cùng quan điểm cũng như tỷ lệ phần trăm dân cư theo xu hướng ngược
lại. Ví dụ, tỷ lệ những người coi trọng sức khoẻ và cuộc sống sung túc đã tăng
lên một cách ổn định trong nhiều năm, đặc biệt là trong nhóm dưới ba mươi tuổi,
những phụ nữ trẻ, nhóm thượng lưu, và những người sống ở miền Tây. Những người
làm Marketing thực phẩm tự nhiên và thiết bị tập thể dục cung cấp cho xu hướng
này những thực phẩm thích hợp và thông tin cần thiết.
